Tr. Khe Sanh với T.Đ.37 B.Đ.Q

bdq-logo                               munau

Trận Khe Sanh với Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân
Trận Khe Sanh với Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân
KHE SANH, một địa danh đèo heo hút gió ở vùng cực bắc Nam Việt Nam cách vùng Phi Quân Sự 14 miles (23 km) về phía Nam, và 6 miles (10 km) về phía Đông của vương quốc Lào. Nếu không có chiến tranh, nét yên tĩnh và phong cảnh nơi đây có thể sẽ được kể là một trong những gì đẹp nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Nhưng kể từ tháng 5 năm 1959, nét an lành của thiên nhiên tại nơi này bắt đầu bị giao động. Năm đó, bộ đội Bắc Việt thiết lập hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh để khởi động công cuộc xâm lăng miền Nam. Lúc ấy, Khe Sanh chưa phải là căn cứ hay tiền đồn. Nhưng vì nằm gần biên giới và giáp ranh Đường Số 9, trục lộ giao điểm của ba quốc gia Nam Việt, Bắc Việt, Lào, nên Khe Sanh đã trở thành một trong những cứ điểm quan trọng nhất trên bản đồ của cuộc chiến Việt Nam.
Đến 1967, các hoạt động của Cộng quân quanh vùng này bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Quân đội Hoa Kỳ tăng cường quân số ở vùng nàỵ Họ tu bổ để Khe Sanh để trở thành một tiền đồn kiên cố. Khe Sanh nằm sát biên giới Việt-Lào, cạnh bên Quốc Lộ 9, án ngữ cửa ngõ xâm nhập của Bắc Việt vào Nam Việt Nam ở tỉnh Quảng Trị. Khi Hoa Kỳ tăng cường lực lượng quân sự để giữ Khe Sanh, tướng Võ Nguyên Giáp của Bắc Việt đã có ý muốn bao vây nơi này để biến nơi này thành một Điện Biên Phủ thứ hai.
Năm 1968, Khe Sanh trở thành một trận chiến bao-vây nổi tiếng trong quân sử. Nhưng nổi tiếng không phải vì phong cảnh đẹp nhất, hoặc khí hậu trong lành nhất, hoặc có du khách ngoại quốc đến thăm nhiều nhất. Nhưng nổi tiếng là vì Khe Sanh là một địa danh có nhiều trận đánh lớn xảy ra trong hai năm 1967 và 1968.
Năm 1968 là thời điểm mà Khe Sanh được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của chiến dịch Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa, khi các lực lượng Cộng Sản mở cuộc tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tại chiến trường Khe Sanh, khoảng 20,000 bộ đội Bắc Việt được huy động để bao vây một lực lượng phòng thủ gồm 6,000 TQLC Mỹ với khoảng 200 tay súng Biệt Động Quân (BĐQ) VNCH. Kết quả là trận chiến đã kéo dài 77 ngày, phía Bắc Việt chẳng những không chiếm được Khe Sanh mà lại còn bị thiệt hại rất nặng với con số tử-vong và thương-vong được ước lượng vào khoảng 13,000 người.

Nằm trên một vùng cao nguyên rộng lớn, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp, Khe Sanh là một căn cứ quân sự vô cùng quan trọng ở tỉnh Quảng Trị. Năm 1962, căn cứ này được Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ xử dụng đầu tiên làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đi sâu vào vùng đất Làọ Vị trí chiến lược của Khe Sanh do đó đã gây nhiều trở ngại lớn cho công cuộc xâm chiếm miền Nam của Bắc Việt.

Năm 1966, Bắc Việt phản ứng mạnh mẽ bằng cách dùng trọng pháo bắn vào Khe Sanh. Cũng trong năm này, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ đến Khe Sanh để canh gác và ngăn chận các cuộc xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) từ bên Lào. Giữa năm 1967, nhiều vụ chạm súng lẻ tẻ xảy ra quanh khu vực. Tiếp theo đó là những trận chiến lớn-nhỏ dành giật mấy ngọn đồi. Cuộc giằng co kéo dài đến gần cuối tháng 1 năm 1968 thì chiến trường Khe Sanh bùng nổ dữ dội. Ba sư đoàn chính quy Bắc Việt bao vây, pháo kích, và dùng chiến thuật xa luân chiến “nhồi” Khe Sanh trong 77 ngày. Như đã nhắc đến ở phần trên, phía Bắc Việt thiệt hại nặng với con số từ 10,000 đến 13,000 cán binh tử thương (Tom Carhart, Battles And Campaigns In Vietnam, tr.130). Trong khi đó, thiệt hại của lực lượng trú phòng tại Khe Sanh được xem là tương đối nhẹ. Hoa Kỳ có 199 binh sĩ Mỹ chết và 1,600 bị thương. Phía Việt Nam Cộng Hòa có 34 người tử trận và 184 bị thương.
Một chiến-đấu cơ A-4 Skyhawk của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trong một phi vụ
yểm trợ cho quân phòng thủ tại căn cứ Khe Sanh, tháng 2/1968. (HÌNH ẢNH: Russell Black)

Vào tháng 3 năm 1967, căn cứ Khe Sanh được phòng thủ vỏn vẹn bởi một đại đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Lúc đầu, hỏa lực tại đây chỉ gồm một pháo đội 105-ly, 2 khẩu 155-ly, cùng 2 súng cối loại 4.2 inch. Lực lượng yểm trợ gồm một đại đội Địa Phương Quân (ĐPQ) và một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng ở làng Khe Sanh (ngôi làng này cũng tên là Khe Sanh) cách căn cứ chỉ hơn 2 miles (3.5 km). Và tất cả đều được yểm trợ bởi các khẩu pháo binh 155-ly và 175-ly ở hai căn cứ hỏa lực Carroll và Rock Pile gần đó.

Ngày 24 tháng 4 năm 1967, một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bất ngờ đụng độ với bộ đội Bắc Việt ở một địa điểm về phía Bắc của Đồi 861. Sau đó tinh tình báo cho biết quân chính quy Bắc Việt đã tập trung đông đảo quân số về vùng nàỵ Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến lập tức được lệnh tăng cường cho Khe Sanh.

Ngày 25 tháng 4, Tiểu Đoàn 3/3 TQLC Hoa Kỳ đến Khe Sanh. Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/3 TQLC được tăng cường. Và đến ngày 27, Pháo Đội B thuộc Tiểu Đoàn 1/12 Pháo Binh có mặt tại căn cứ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1967, sau khi được pháo binh yểm trợ, Tiểu Đoàn 2/3 TQLC Hoa Kỳ hành quân chiếm Đồi 861. Lúc đó, Tiểu Đoàn 3/3 cũng mở cuộc tấn công lên Đồi 881. Đây là những cụm đồi nằm gần Khe Sanh, và đã được quân đội Mỹ chọn làm những tiền đồn bảo vệ căn cứ. Trong những ngày tiếp đến, các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ lần lượt chiếm hết những cao-điểm lân cận. Đó là những cao-điểm mang tên: Đồi 861, Đồi 881-Bắc, và Đồi 881-Nam.

Ngày 13 tháng 5/1967, Đại Tá J.J. Padley nhậm chức chỉ huy trưởng căn cứ Khe Sanh, thay thế Đại Tá J.P. Lanigan. Lực lượng phòng thủ được tăng cường thêm 3 tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 26 TQLC để thay thế cho Trung Đoàn 3. Lúc đó, từ 24 tháng 4/1967 đến 12 tháng 5/1967, bộ đội Bắc Việt thường xuyên công kích với nhiều màn chạm súng lẻ tẻ. Các vụ đụng độ này đã gây tử thương cho 155 lính Mỹ, nhưng quân Bắc Việt bị thiệt hại nặng hơn với 940 cán binh bỏ mạng.

Mùa Hè 1967, quân Cộng Sản phải tạm ngưng các hoạt động sau khi đã bị thiệt hại nặng trong một thời gian ngắn (từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5). Áp lực quân sự quanh vùng Khe Sanh giảm sút khá nhiều. Ngày 12 tháng 8/1967, Đại Tá David E. Lownds được chỉ định thay thế Đại Tá J.J. Padley trong chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 26 TQLC Hoa Kỳ tại Khe Sanh. Vì tình hình lúc đó đang lắng diệu, hai trong ba tiểu đoàn TQLC của Trung Đoàn 26 Hoa Kỳ đã được phép rút khỏi căn cứ. Nhưng tháng 12, Tiểu Đoàn 3/26 lại được lệnh tăng cường cho Khe Sanh. Tinh tình báo cho biết hoạt động của các lực lượng Cộng Sản đã bắt đầu gia tăng quanh vùng này.

TRẬN CHIẾN KHE SANH TRONG NĂM 1968

Đêm 2 tháng 1/1968, gần hàng rào phòng thủ phía Tây Khe Sanh, một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phục kích và bắn hạ 5 cán bộ Cộng Sản. Giấy tờ tịch thu cho biết họ là những sĩ quan cao cấp, trong đó có cả một người là trung đoàn trưởng, và hai người kia là cán bộ cao cấp về ngành truyền tin và hành quân. Tình báo Hoa Kỳ lo ngại một lực lượng hùng hậu của Bắc Việt đã có mặt tại vùng này. Khi ấy, Trung Đoàn 26 TQLC tại Khe Sanh lập tức được lệnh phải bổ sung quân số.

Đến ngày 20 tháng 1/1968, một trận đánh dữ dội đã xảy ra trên Đồi 881-Nam. Ngọn đồi này được phòng thủ bởi một cánh quân của Tiểu Đoàn 1/3 TQLC, gồm Bộ Chỉ Huy của Đại Đội M, hai trung đội bảo vệ, và toàn thể lực lượng của Đại Đội K. Trong quyển sách Nam, Vietnam 1965-75, Đại Úy William H. Dabney (đại đội trưởng Đại Đội I) cho biết đại đội của ông chỉ huy có vài khẩu bích kích pháo 81-ly, 3 đại bác 105-ly, và hai súng không-giật 106 lỵ
Căn cứ hỏa lực Peanuts nằm về phía tây Khe Sanh và gần Làng Vei tháng 04/1968

Lúc trời vừa sáng còn dầy đặc sương mù, một toán quân của Đại Đội I lục soát vòng quanh khu vực. Mọi vật trong không gian và thời gian đang lắng đọng yên lành. Nhưng đến trưa khi sương mù tan biến. Nét lặn yên của buổi sáng bị giao động giữ dội. Hai trung đội đi đầu lọt vào ổ phục kích của địch quân. Một rừng đạn đủ loại từ súng cá nhân cho đến vũ khí cộng đồng bay veo véọ Trong vòng chưa đến một phút mà đã có 20 binh sĩ Hoa Kỳ ngã gục. Những người còn lại nằm rạp xuống tránh đạn. Họ vừa bắn trả, vừa hét vào máy truyền tin xin hỏa lực pháo binh tiếp cứu.

Ngay lập tức, các căn cứ hỏa lực ở gần đó đã mau chóng phản ứng. Những khẩu đại bác được quay nòng về hướng Đồi 881-Nam và tác xạ mạnh mẽ. Một rừng đạn pháo bay đến cày nát chiến trường. Phi cơ không-yểm xuất hiện ném bom Napalm xuống cản được đợt tấng công của Cộng quân. Đơn vị TQLC Mỹ bị thiệt hại nặng. Họ phải lui về vị trí cũ trên Đồi 881-Nam.

Khi ấy, hai trung đội Thủy Quân Lục Chiến của Đại Đội M/3/26 được trực thăng vận đến Đồi 881-Nam. Toán quân này chuẩn bị hợp sức với Đại Đội I/3/26 để ngày hôm sau mở cuộc lục soát về hướng Đồi 881-Bắc. Theo một nguồn tài liệu, cuộc hành quân này đưa đến một vụ đụng độ ác liệt dưới chân Đồi 881-Bắc. Lúc ấy, nương vào hỏa lực phi pháo và không yểm, Đại Đội I/3/26 của Đại Úy Dabney đã gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn Bắc Việt với 103 cán binh bỏ xác tại trận địa. Phía Hoa Kỳ bị thiệt mất 7 binh sĩ.

Cũng ngày 20 tháng 1/1968, một biến chuyển quan trọng bất ngờ xảy ra. Lúc 2 giờ chiều, một viên trung úy Bắc Việt thuộc Sư Đoàn 325C đột nhiên ra đầu thú. Người này cho biết đêm nay Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lên hai ngọn đồi 861 và 881-Bắc. Ngoài ra, viên trung úy này cũng tiết lộ rằng hai sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đã có kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.

Đúng như lời khai của viên trung úy Bắc Việt, lúc 12 giờ 30 rạng ngày 21 tháng 1/1968, Cộng quân pháo kích vào Đồi 861. Kho đạn của Thủy Quân Lục Chiến ở trên đồi bị bắn nổ tan. Sau đó, một đơn vị Cộng Sản với khoảng 300 cán binh chuẩn bị xung phong lên đồi. Nhưng các binh sĩ Đại Đội K/3/26 đã biết trước. Họ gờm súng chờ đợi. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, phía Bắc Việt phải rút lui và để lại 47 xác. Phía Hoa Kỳ có một người lính tử trận.

Khi ấy ở căn cứ Khe Sanh, quân trú phòng luôn chú tâm theo dõi các diễn biến trên cao-điểm 861. Khi trận đánh kết thúc gần 6 giờ sáng, họ nghe nhiều tiếng “đề-pa” từ xa vọng lại. Bầu trời đột nhiên đổ cơn mưa to. Nhưng không bằng những giọt nước, mà là những hạt mưa bằng thép với đường kính từ 81 đến 130-ly.

Khi quả đạn đầu tiên lao vào căn cứ, những người lính Mỹ tại Khe Sanh lập tức rút vào hầm. Một số khác co lại trong giao thông hào. Tay họ ghì lấy nón sắt, và miệng đếm theo tiếng nổ của đạn pháo binh. Trong phút chốc, kho đạn khổng lồ trong căn cứ với 1,500 tấn bùng nổ tan tành. Phi đạo tại Khe Sanh với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung. Chiều dài phi đạo bị rút ngắn lại chỉ còn 2,000 feet (609 m). Thế mà ngày hôm đó một vài chiếc vận-tải cơ của Hoa Kỳ cũng ráng đáp xuống phi đạo để mang các kiện hàng cho quân bạn tại Khe Sanh.

Ngày 22 tháng 1/1968, tình hình nguy ngập. Tiểu Đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đến tăng cường Khe Sanh. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 9. Họ đã nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa qua.

Ngày 26, một lực lượng tăng viện khác cũng được không vận đến Khe Sanh. Đó là Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH của Đại Úy Hoàng Phổ. Đây là một đơn vị bộ chiến đầy kinh nghiệm, gan lì, và thiện chiến của miền Nam Việt Nam. Khu vực trách nhiệm của Tiểu Đoàn 37 là một dãy giao thông hào nằm về hướng đông trong căn cứ Khe Sanh.

Lúc ấy, ngoài 6,000 lính TQLC Hoa Kỳ và một tiểu đoàn Biệt Động Quân VNCH, Khe Sanh còn được phòng thủ bởi hỏa lực pháo binh riêng biệt gồm một pháo đội súng cối 106-ly, 3 pháo đội đại bác 105-ly, và một pháo đội đại bác 155-ly. Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 Patton và 2 chi đội chiến xa M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106-ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ của 4 pháo đội đại bác 175-ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175-ly từ căn cứ Carroll.

Phía bên kia, lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém. Tướng Võ Nguyên Giáp lúc ấy nắm trong tay ít nhất 3 sư đoàn. Ngoài ra, ông còn có thêm một số đơn vị biệt lập khác hỗ trợ. Lực lượng Cộng Sản trong vùng được ghi nhận như sau:
Sư Đoàn 325C CSBV đóng quân về phía Bắc của Đồi 881 Bắc.
Sư Đoàn 304 CSBV (xuất phát từ bên Lào) đóng quân về phía Tây Nam của Khe Sanh.
Một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 324 CSBV đang có mặt ở gần vùng phi quân sự, cách Khe Sanh 15 miles (24 km) về hướng Tây Bắc.
Sư Đoàn 320 CSBV giữ vị trí về phía Bắc của căn cứ hỏa lực Rock Pile.
Ngoài ra, Cộng Sản huy động thêm một đơn vị thiết giáp với chiến xa T-54 cùng hai trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh.

Ngày 30 tháng 1/1968, Cộng Sản phát động chiến dịch Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa (thường được gọi là cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân) trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Tại những thành phố lớn, các đơn vị Việt Cộng cố các trận đánh lớn để gây tiếng vang. Nhưng gần Khe Sanh, tình hình tương đối yên tĩnh, tuy sự yên tĩnh chỉ kéo dài được 6 ngày.

Hôm 5 tháng 2/1968, tiếng súng khởi sự nổ trên đồi 861A. Một tiểu đoàn Bắc Việt (thuộc Sư Đoàn 325) mở cuộc tấn công. Địch quân chiếm một phần tại vòng đai phía Bắc trong khu vực trách nhiệm của Đại Đội E/2/26. Nhưng sau đó, Bắc quân bị đánh bật trở ra trong một cuộc phản công quyết liệt của các binh sĩ TQLC. Tổng kết trận đánh có 7 lính Mỹ tử trận, phía bên kia Bắc quân thiệt mất 109 cán binh (theo tài liệu Khe Sanh Veterans Home Page: Time Line).

Ngày 6 tháng 2/1968, quân Cộng Sản đánh vào trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, nằm gần Khe Sanh chừng 6 miles (10 km) về hướng Tây. Quân Bắc Việt xử dụng chiến xa PT-76. Và đó cũng là lần đầu tiên thiết giáp Bắc Việt trực tiếp tham chiến tại miền Nam. Do Nga Sô chế tạo và cung cấp, các xe PT-76 được trang bị một đại bác 76-ly và có khả năng lội nước. Tuy vỏ bọc bên ngoài tương đối mỏng, nhưng độ cứng của thép cũng đủ để ngăn chận các loại đạn trung liên từ 7.62-ly trở xuống.

Trong trận đánh tại Làng Vei, 11 chiến xa PT-76 của Bắc Việt dẫn đầu. Theo sau là một tiểu đoàn bộ đội yểm trợ. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 66 dưới quyền điều động của Sư Đoàn 304. Trận đánh tại Làng Vei kéo dài chỉ một ngày. Chín (9) trong số 11 chiếc PT-76 bị bắn hạ, nhưng quân trú phòng không ngăn nổi trận biển người của đối phương. Chết trong trận này gồm có hơn 200 binh sĩ Dân Sự Chiến Đấu VNCH cùng 10 trong số 24 sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ.

Ngày 9 tháng 2/1968, một tiểu đoàn Bắc Việt thuộc Trung Đoàn 101D của Sư Đoàn 325 mở cuộc tấn công lên Đồi 64. Các vị trí phòng thủ trên đồi (do Đại Đội A/1/9 TQLC trấn giữ) đều bị bộ đội Cộng Sản tràn ngập. Tình hình cực kỳ nguy hiểm, các binh sĩ TQLC lập tức xin phip-pháo yểm trợ. Không chút chậm trễ, tất cả hỏa lực đại-bác quanh vùng đều được tập trung và tác xạ về hướng Đồi 64. Ngoài ra, một lực lượng TQLC khác đã nhận lệnh di chuyển đến Đồi 64 để tiếp cứu quân bạn. Trận giao tranh đẫm máu kéo dài 3 giờ đồng-hồ. Phía Bắc Việt phải rút lui, để lại 150 xác bộ đội tại trận địa. Phía Hoa Kỳ có 26 lính TQLC bỏ mạng.

Sau trận đánh trên Đồi 64, quân Bắc Việt phải tạm ngưng để bổ sung quân số. Chiến trường lắng dịu trong hai tuần. Nhưng đến ngày 21 tháng 2/1968, căn cứ Khe Sanh lại bị tấn công. Lần này, một đại đội Cộng quân gây áp lực tại vòng đai phía đông, tức vùng trách nhiệm của của Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Nhưng cuộc giao tranh kết thúc mau lẹ. Quân Bắc Việt không chọc thủng được vòng đai phòng thủ của các binh sĩ Mũ Nâu VNCH.

Hai ngày sau, 23 tháng 2/1968, Bắc quân tập trung pháo binh để phục hận. Hôm đó họ bắn 1,300 quả đạn đủ loại vào Khe Sanh. Trận địa pháo kéo dài 8 tiếng đồng hồ đã làm nổ tung một kho tồn trữ đạn, gây thiệt mạng cho 10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.

Đêm 29 tháng 2, mặt trận Khe Sanh tiếp tục bùng nổ với trận đụng-độ sau cùng. Lúc 9 giờ 30 tối, một tiểu đoàn Bắc Việt thuộc Sư Đoàn 304 đánh thẳng vào khu vực phía đông Khe Sanh. Đây là khu vực trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 37 BĐQ. Sau một đợt pháo kích dọn đường, và sau ba lần xung phong với chiến thuật biển-người, tiểu đoàn Bắc Việt cũng vẫn không lọt qua được phòng tuyến của Biệt Động Quân. Đêm hôm đó các binh sĩ Biệt Động Quân chiến đấu rất bình tĩnh. Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới khai hỏa.

Khi ấy trong giao thông hào khói lửa mịt mù. Nón sắt, áo giáp, cài kỹ lưỡng. Súng trường M-16 được gắn lưỡi lê (bayonet). Lựu đạn đeo ở bụng, trước ngực, hoặc choàng vai. Băng đạn sát bên người, ở hông và đầy trong túi. Đêm hôm đó tiểu đoàn 37 BÐQ chống trã rất mãnh liệt. Kinh nghiệm chiến đấu và sự gan dạ của họ đã là một trong những yếu tố đẩy lui cả 3 lần xung phong của đối phương. Ngày hôm sau, một toán Biệt Động Quân di chuyển ra ngoài vòng đai phòng thủ để quan sát tình hình. Họ đếm được 70 xác chết Bắc Việt la liệt trên mặt đất.

Trong quyển Battles And Campaigns In Vietnam, tác giả Tom Carhart có ghi lại một cách ngắn gọn về trận đánh của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân như sau:
“Rạng sáng ngày 29 tháng 2/1968, mũi tấn công duy nhất được nhắm vào vòng đai trách nhiệm của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Khi Cộng quân xung phong đến gần hàng rào, họ bị lính Mũ Nâu chào đón họ bằng một rừng Claymore (mìn chống cá nhân), lựu đạn và súng cá nhân. Địch quân không qua được hàng rào kẽm gai chằng chịt bên ngoài. Đó là một thảm bại nặng nề với 70 xác chết để lại trước khi tháo chạy.”

Trong các tài liệu Anh ngữ nói về trận chiến tại Khe Sanh, hầu như các tác giả và ký giả Hoa Kỳ chỉ ghi nhận mức chịu đựng bền bỉ của người lính Thủy Quân Lục Chiến. Nhưng ít ai biết đến hoặc nhắc nhở gì về sứ mạng phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Tuy nhiên, công trạng của họ đã được Trung Tướng Phillip Davison nhắc đến trong tài liệu Vietnam At War, The History 1946-75 :
“…[Tướng] Giáp nghĩ rằng tấn công vào tuyến phòng thủ của Biệt Động Quân VNCH sẽ dễ dàng hơn là đánh vào những nơi có Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trấn giữ, nhưng hoàn toàn sai lầm , không thể gọi là dễ dàng được bởi vì đây là một đơn vị Biệt Động Quân vô cùng thiện chiến của QLVNCH.”

Trận tấn công vào đêm 29 tháng 2 (cho đến rạng ngày 1 tháng 3) là trận tấn công cuối cùng của Bắc quân vào căn cứ. Ngày 1 tháng 4/1968, chiến dịch giải tỏa Khe Sanh bắt đầu. Cuộc hành quân mệnh danh PEGASUS (của Mỹ) và Lam Sơn 207 (của Việt Nam Cộng Hòa) được khởi động với sự tham dự của nhiều đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và Nhảy Dù Nam Việt Nam. Trục tiến quân giải tỏa Khe Sanh được thiết lập dọc theo Quốc Lộ 9.

Vài ngày sau, 8 tháng 4, căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏa. Kế hoạch tạo dựng một Điện Biên Phủ thứ hai của tướng Giáp không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị mất từ 10,000 đến 13,000 bộ đội. Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không-yểm.

Sau này, các sách vở về chiến tranh Việt Nam đều có nhiều nhận xét khác nhau về chiến thuật của đôi bên. Một lập luận cho rằng tướng Võ Nguyên Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có thể rãnh tay tấn công các vùng khác. Một lập luận khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lý do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ rồi đầu hàng. Trong khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đã “tương kế tựu kế.” Ông mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Nhưng lịch sử đã không theo vết xe lăn của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện để phòng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần thiết. Phía bên kia, quân Bắc Việt không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại còn bị thiệt mất từ 10 đến 13,000 bộ đội. Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh.
Phạm Cường Lễ

Advertisements