GĐ26XungPhong ở Hồng Ngự

gd26xp3

hongngut

Giang Ðoàn 26 Xung Phong Tại Chiến Trường Tân Châu – Hồng Ngự (1973)
Những Giòng Sông Cũ …
Trần Ðỗ Cẩm
(Mến tặng các bạn đồng đội đã từng phục vụ tại Giang Ðoàn 26 Xung Phong – Long Xuyên)

I. Bối Cảnh Lịch Sử
Vào năm 1973, tuy hiệp định ngưng bắn Paris đã được ký kết nhưng những trận đánh giữa hai phe Quốc – Cộng để dành quyền chủ động tại chiến trường miền Nam Việt Nam mỗi lúc một trở nên khốc liệt. Trong lúc quân lực Hoa Kỳ coi như đã “rút lui trong danh dự” không còn tham chiến, Cộng quân được “bật đèn xanh” công khai xua quân xâm chiếm miền Nam. Hình thức chiến tranh chuyển từ du kích chiến sang trận địa chiến bằng những trận đánh dữ dội với quân số đôi bên lên tới nhiều sư đoàn chủ lực có những vũ khí nặng như chiến xa, đại pháo hỗ trợ.

Nhìn chung, chiến trường sôi động nhất tại các vùng giới tuyến và biên giới Lào – Việt tại miền Trung và Miên – Việt tại miền Nam. Cộng quân từ vùng phi quân sự hay từ các căn cứ địa an toàn bên Lào, Cam Bốt ngang nhiên tràn qua lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, trong lúc phe Quốc Gia vì không còn đủ sức tấn công dành quyền chủ động nên chỉ có thể dùng toàn lực ngăn chặn trong tư thế phòng thủ.

Trong lúc các quân binh chủng bạn như Không Quân, Bộ Binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh v.v… tung hết lực lượng để đối đầu với địch quân, thì phần đóng góp của các đơn vị Hải Quân trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này cũng không phải là nhỏ. Tại Vùng I và Vùng II Chiến Thuật nơi các trận đánh thường xảy ra dọc theo duyên hải, các chiến hạm ngày đêm tuần tiễu ngoài khơi cũng như yểm trợ hải pháo. Trong lúc đó, các Duyên Ðoàn phối trí tại các điểm chiến lược quan trọng dọc bờ biển cũng sát cánh với các đơn vị bạn trong các cuộc hành quân thủy bộ.

Riêng tại Vùng III Chiến Thuật với thủ đô Sài Gòn và Vùng IV Chiến Thuật là vựa lúa nuôi sống Miền Nam, vai trò của các đơn vị Hải Quân lại càng quan trọng. Ngoài phần lãnh hải cần được tuần phòng nghiêm ngặt, còn phải chận đứng mọi di chuyển và xâm nhập của địch quân qua các sông ngòi chằng chịt. Việc yểm trợ, tiếp tế cho các đồn bót ven sông cũng cần thiết không kém. Hơn nữa, cường độ chiến tranh bên quốc gia láng giềng Cam Bốt cũng đang gia tăng dữ dội. Cộng quân đã phong tỏa và cắt đứt những đường bộ tiếp vận về Nam Vang nên thủy lộ sông Cửu Long từ Tân Châu – Hồng Ngự qua bến phà Neak Luoeng lên đến thủ đô Cam Bốt trở thành mạch máu chính nuôi sống chính quyền Lon Nol thân Hoa Kỳ.

Ðể đáp ứng nhu cầu chiến trường, hoạt động của các Giang Ðoàn Hải Quân tai Miền Nam đã gia tăng đáng kể để bảo vệ lãnh thổ cũng như khai thông thủy lộ Sông Cửu Long. Vùng IV Chiến Thuật, ngoài các nhánh sông Cửu Long vươn dài như những cánh tay bạch tuộc ôm chặt vựa lúa Miền Nam, còn có rất nhiều kinh, rạch. Vì vậy, đây là địa bàn hoạt động của rất nhiều Giang Ðoàn Xung Phong, Thủy Bộ, Ngăn Chặn và Tuần Thám. Từ những giòng Tiền Giang, Hậu Giang, U Minh, Ðồng Tháp đến những nơi xa xôi hẻo lánh như U Minh, Cà Mau, Năm Căn v.v…, đâu đâu cũng có mặt các giang đĩnh ngày đêm ngăn chặn giặc thù. Những giang đĩnh này đã nhiều lần làm Cộng quân khiếp vía trong những trận đánh long trời lở đất và cũng là nguồn hy vọng cho những đồn bót ven sông.

Tuy có rất nhiều đơn vị Hải Quân góp phần đắc lực vào việc tiễu trừ giặc Cộng, bài này chỉ viết về những hoạt động của một đơn vị Hải Quân nồng cốt thuộc Vùng IV Chiến Thuật, đó là Giang Ðoàn 26 Xung Phong, đơn vị tác giả được hân hạnh phục vụ trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng kể trên. Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều bài viết tương tự để chiến công của những chiến sĩ áo trắng trong sông không bị mai một với thời gian. Bài viết này cũng nhằm mục đích vinh danh và kính tặng những chiến sĩ Hải Quân anh dũng đã một thời gắn bó với các kình ngư trong sông, đặc biệt các bạn đồng đội thân mến đã phục vụ tại Giang Ðoàn 26 Xung Phong.

Trước khi đi sâu vào chi tiết về các trận đánh của Giang Ðoàn 26 Xung Phong tại chiến trường Tân Châu – Hồng Ngự vào năm 1973, tưởng cũng nên tóm lược hệ thống tổ chức hành quân Hải Quân để độc giả, nhất là những người không quen thuộc với tổ chức Hải Quân, dễ bề tìm hiểu và theo dõi.
II. Sơ Lược Tổ Chức Hành Quân Hải Quân
Nhằm đáp ứng nhu cầu chiến trường mỗi ngày một gia tăng và để yểm trợ hữu hiệu cho các đơn vị bạn, ngoài Hạm Ðội lo việc tuần tiễu và chuyển vận ngoài khơi, mỗi vùng Chiến Thuật còn có các các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng để để phối hợp chặt chẽ với các Quân Khu liên hệ. Các Bộ Tư Lệnh Vùng chia thành hai loại: Vùng Duyên Hải đảm nhiệm công tác dọc theo bờ biển, trong khi các Vùng Sông Ngòi lo việc hành quân trong sông. Tổng Cộng, Hải Quân có 5 Vùng Duyên Hải và 2 Vùng Sông Ngòi.
A. Vùng Duyên Hải
Vùng Duyên Hải trực tiếp chỉ huy các đơn vị cơ hữu như Hải Ðội Duyên Phòng, Duyên Ðoàn, Ðài Kiểm Báo v.v… và chiến hạm Hạm Ðội tăng phái để tuần tiễu vùng bờ biển trách nhiệm cũng như phối hợp hành quân với Quân Khu tương ứng. Bộ Tư Lệnh các Vùng Duyên Hải được phối trí như sau:
1. Tại Vùng I Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải đóng tại bán đảo Tiên Sa (vùng Sơn Chà) Ðà Nẵng, chịu trách nhiệm vùng bờ biển từ vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải, Cửa Việt) tới Quảng Ngãi.
2. Tại Vùng II Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải đóng tại Cam Ranh, chịu trách nhiệm vùng bờ biểu từ Bình Ðịnh tới Phan Thiết.
3. Tại Vùng III Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng III Duyên Hải đóng tại Vũng Tàu. Chịu trách nhiệm vùng bờ biển từ Phước Tuy tới mũi Cà Mau.
4. Tại Vùng IV Chiến Thuật
Ðặc biệt Vùng IV Chiến Thuật có bờ biển chạy dài từ mũi Cà Mau lên tới biên giới Miên – Việt mãi tận Hà Tiên và Vịnh Thái Lan với rất nhiều hải đảo nên có tới 2 Vùng Duyên Hải.

– Bộ Tư Lệnh Vùng IV Duyên Hải đóng tại đảo Phú Quốc.

– Bộ Tư Lệnh Vùng V Duyên Hải đóng tại Năm Căn thuộc tỉnh An Xuyên. Ðây là một Bộ Tư Lệnh khá đặc biệt được thành lập sau này để đáp ứng nhu cầu hành quân bình định vùng cửa sông Ông Ðốc, Gành hào, Rạch Giá và các sông ngòi thuộc khu vực Cà Mau và U Minh.
B. Vùng Sông Ngòi
Vùng Sông Ngòi đảm trách việc tuần tiễu trong sông và phối hợp hành quân với Quân Khu liên hệ. Ðơn vị nồng cốt của Vùng Sông Ngòi là các Giang Ðoàn. Vùng I và Vùng II Chiến Thuật vì ít sông lạch nên không có Vùng Sông Ngòi. Tuy nhiên, có một số Giang Ðoàn Trục Lôi và Tuần Thám hoạt động tại vùng Cửa Việt, Cửa Thuận An và Hội An thuộc Vùng I Chiến Thuật được đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải. Vùng II Duyên Hải không có Giang Ðoàn mà chỉ có những Duyên Ðoàn.

Miền Nam lắm sông nhiều rạch nên có rất nhiều Giang Ðoàn hoạt động. Hai Bộ Tư Lệnh Vùng Sông Ngòi chỉ huy các Giang Ðoàn này được phân chia như sau:
1. Tại Vùng III Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng III Sông Ngòi đóng tại Sài Gòn. Khu vực hoạt động bao gồm sông Sài Gòn, các sông Vàm Cỏ Ðông và Vàm Cỏ Tây lên tới tận Gò Dầu Hạ sát biên giới Miên – Việt thuộc tỉnh Tây Ninh. Ngoài quân cảng Sài Gòn, Bến Lức và Long An là các căn cứ Hải Quân lớn thuộc vùng III Sông Ngòi với nhiều giang đĩnh đủ loại nằm sát chân cầu có thể nhìn thấy từ Quốc Lộ 4.
2. Tại Vùng IV Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng IV Sông Ngòi đặt tại Bến Ninh Kiều, Cần Thơ (Tây Ðô). Ðây là một đại đơn vị nồng cốt hoạt động trong sông của Hải Quân mà đơn vị chiến đấu căn bản là các Giang Ðoàn Xung Phong, những đơn vị Hải Quân kỳ cựu nhất bắt nguồn từ các Hải Ðoàn đã từng chiến đấu tại Bắc Việt, được người Pháp chuyển giao cho Hải Quân VNCH vào các năm 1953 – 1954. Sau này, khi nói tới Giang Ðoàn Xung Phong, các quân nhân Hải Quân thường nghĩ ngay tới Vùng IV Sông Ngòi với các giòng sông quen thuộc như Tiền Giang, Hậu Giang, Cái Lớn, Cái Bé, Ông Ðốc, Gành Hào v.v… cùng những con kinh nổi tiếng như Ðồng Tiến, Mang Thít, Chợ Gạo, Mỏ Cày, Xà No, Cái Sắn, Giang Thành v.v…
III. Giang Ðoàn Xung Phong
Ngay từ khi mới thành lập, Vùng IV Sông Ngòi đã có 4 Giang Ðoàn Xung Phong được phối trí như sau:
1. Giang Ðoàn 21 Xung Phong
Ðóng tại Mỹ Tho, gần Bắc Rạch Miễu trên đường đi sang Kiến Hòa. Vùng hoạt động gồm khu vực Tiền Giang, Kinh Chợ Gạo (Mỹ Tho), Sông Hàm Luông (Kiến Hòa), Cửa Tiểu v.v…
2. Giang Ðoàn 23 Xung Phong
Ðóng tại Vĩnh Long, gần Bắc Cổ Chiên I trên đường đi sang quận Chợ Lách. Vùng hoạt động bao gồm sông Cổ Chiên, Cao Lãnh, Ðồng Tháp Mười v.v…
3. Giang Ðoàn 25 Xung Phong
Ðóng tại Cần Thơ, gần bến Ninh Kiều, chung với Bộ Tư Lệnh Vùng IV Sông Ngòi. Vùng hoạt động gồm khu vực Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau v.v…
4. Giang Ðoàn 26 Xung Phong
Ðóng tại Long Xuyên, gần công viên Nguyễn Du. Vùng hoạt động bao gồm khu vực Sa Ðéc, Vàm Nao, Chợ Mới, Châu Ðốc, Tân Châu, Hồng Ngự lên tận biên giới Miên – Việt.

Những vùng hoạt động trên chỉ được phân chia theo lý thuyết vì trên thực tế, tùy theo nhu cầu hành quân, các Giang Ðoàn thường được du di điều động tăng phái hay xuất phái. Sau này, có thêm một số Giang Ðoàn Xung Phong được thành lập để đáp ứng với đòi hỏi của chiến trường. Thí dụ như là Giang Ðoàn 27 Xung Phong đóng chung hậu cứ với Giang Ðoàn 21 Xung Phong tại Mỹ Tho để trở thành Liên Giang Ðoàn 21/33 Xung Phong. Giang Ðoàn 31 Xung Phong đóng chung hậu cứ với Giang Ðoàn 23 Xung Phong tại Vĩnh Long để trở thành Liên Giang Ðoàn 23/31 Xung Phong và Giang Ðoàn 29 Xung Phong đóng chung với Giang Ðoàn 25 Xung Phong tại Cần Thơ để trở thành Liên Giang Ðoàn 25/29 Xung Phong.

Mỗi Giang Ðoàn Xung Phong có bảng cấp số tương đương với một Tiểu Ðoàn Bộ Binh và được trang bị nhiều loại giang đĩnh có công dụng khác nhau như một hạm đội trong sông. Số giang đĩnh tiêu chuẩn được liệt kê đại cương như sau:

– 6 Tiểu Vận Ðĩnh (LCVP – Landing Craft Vehicle Personnel): Ðây là loại tầu mũi bằng, vỏ gỗ, một máy, có thể chở được chừng một trung đội bộ binh, với cửa đổ bộ mở xuống, kéo lên được bằng giây cáp. Tuy nhiên, các LCVP của Giang Ðoàn Xung Phong đã được biến cải với cửa đổ bộ được hàn kín. Những giang đĩnh này không còn được dùng để chở quân mà được dùng để rà mìn trong sông, nhất là trong những kinh, rạch nhỏ. Về hỏa lực, mỗi LCVP được trang bị một đại bác 20 ly trước mũi, hai đại liên 30 bên hông và một đại liên 30 trên mui tại phòng lái. Thủy thủ đoàn LCVP gồm 4 người. LCVP thường hoạt động từng cặp để yểm trợ lẫn nhau.

– 6 Tiểu Giáp Ðĩnh (FOM): Vỏ sắt, mũi nhọn, một máy, vận tốc cao, vận chuyển lẹ làng như Khu Trục Hạm trong hạm đội. Mỗi FOM được trang bị một đại liên 50 trước mũi, hai đại liên 30 bên hông và một đại liên 30 trên mui gần phòng lái. Thủy thủ đoàn FOM gồm 4 người và cũng hoạt động từng cặp như LCVP.

– 6 Trung Vận Ðĩnh (Landing Craft Medium LCM-6): Ðây là loại giang đĩnh mũi bằng, hai máy với cửa đổ bộ kéo bằng máy, có thể chở chừng một đại đội bộ binh. Vũ khí trang bị gồm một đại bác 20 ly phía sau lái, hai đại bác 20 ly bên hông và hai đại liên 30 trong phòng lái.

– 1 Giang Ðĩnh Chỉ Huy và Truyền Tin (Monitor Commandement): Ðây là loại giang đĩnh LCM-6 biến cải, có phòng ngủ sĩ quan, máy truyền tin để đặt bộ chỉ huy hành quân. Vũ khí trang bị gồm một hầm súng cối 81 ly đặt dưới lòng tầu, một đại bác 20 ly phía sau lái và hai đại liên 30 trong phòng lái.

– 1 Thiết Giáp Ðĩnh (Monitor Combat): Cũng là loại LCM-6 biến cải, nhưng với vỏ sắt dầy hơn với pháo tháp đại bác 40 ly gắn trước mũi chung với đại liên 50. Ngoài ra, còn có một đại bác 20 phía sau lái, 2 đại liên 50 bên hông và một hầm súng cối 81 ly giống như Giang Ðĩnh Chỉ Huy và Truyền Tin. Thiết Giáp Ðĩnh có hỏa lực mạnh nhất trong các giang đĩnh và được coi như Thiết Giáp Hạm trong sông.

Theo tiêu chuẩn, mỗi Giang Ðoàn Xung Phong có chừng 20 giang đĩnh đủ loại, được tổ chức tương tự như một hạm đội ngoài biển. Sau này, đa số các số Giang Ðoàn được trang bị loại giang đĩnh RPC (River Patrol Craft) hai máy để thay thế cho một số FOM cũ kỹ bị phế thải và còn thêm loại LCM-8 có khả năng chở Thiết Vận Xa và đại bác của Pháo Binh. Một số đơn vị còn có tới 2 Monitor Combat hay Commandemant. Tuy số lượng và loại Giang Ðĩnh có thể không giống nhau, nhưng tựu chung, mỗi Giang Ðoàn đều có khả năng tác chiến giống nhau, có thể thực hiện những cuộc hành quân phối hợp thủy-bộ biệt lập với khoảng 1 Tiểu Ðoàn Bộ Binh.
IV. Giang Ðoàn 26 Xung Phong
Ðây là một trong những đơn vị chuyên hoạt động trong sông kỳ cựu nhất của Hải Quân VNCH. Các giang đĩnh của Giang Ðoàn này phần lớn đã tham chiến tại các mặt trận lừng danh ở Bắc Việt trước năm 1954 trong thời kỳ chiến tranh Việt – Pháp. Tiền thân của Giang Ðoàn 26 Xung Phong là các Dinassault của Pháp đã từng đóng những vai trò vô cùng quan yếu tại các chiến trường nổi tiếng Sông Lô, Việt Trì, Nam Ðịnh, Thái Bình, Ninh Bình, Phát Diệm, Sông Ðáy v.v…

Hậu cứ của Giang Ðoàn 26 Xung Phong đặt tại trại Vân Ðồn thuộc tỉnh Long Xuyên, một thị trấn xinh đẹp, hiền hòa nằm ven bờ sông Hậu. Vùng hoạt động của đơn vị bao gồm các tỉnh An Giang, Sa Ðéc, Cao Lãnh và Châu Ðốc lên tới tận miền biên giới Miên – Việt. Tuy chịu trách nhiệm tại vùng có đông tín đồ Hòa Hảo tương đối an ninh, nhưng giang đĩnh của đơn vị thường phải phân tán và xé lẻ để có thể tuần tiễu khu vực trách nhiệm khá rộng lớn có nhiều sông rạch, hoặc phối hợp hành quân thủy – bộ hay yểm trợ, tiếp tế cho các đồn bót hẻo lánh ven sông. Các giang đĩnh luôn luôn tăng phái thường trực tại vùng biên giới Miên – Việt thuộc các quận Tân Châu – Hồng Ngự hay tỉnh Châu Ðốc. Ngoài ra, đôi khi vì nhu cầu hành quân, một số giang đĩnh còn được tăng cường phối hợp với Giang Ðoàn 25 đóng tại Cần Thơ để phối hợp hành quân với Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tại các vùng Cà Mau, Chương Thiện, Rạch Giá v…

Vào khoảng đầu thập niên 1970, cùng với chương trình tối tân hóa và bành trướng của Hải Quân, Long Xuyên trở thành một Căn Cứ Hải Quân lớn. Giang Ðoàn 26 Xung Phong vẫn tiếp tục trú đóng tại đây, chung hậu với các đơn vị bạn mới được thành lập như Tiền Doanh Yểm Trợ, Bệnh Xá, Giang Ðoàn Tuần Thám v.v…
V. Cộng Quân Phong Tỏa Hồng Ngự

Hồng Ngự (Xem Bản Ðồ Hồng Ngự) là một quận lỵ cực Bắc của tỉnh Kiến Phong, nằm trên bờ Ðông của Sông Cửu Long. Chỉ có một con đường bộ duy nhất nối liền với tỉnh lỵ Cao Lãnh, xuyên qua kinh Ðồng Tiến và quận Kiến Văn. Ðối diện với quận lỵ là cù lao Long Khánh trù phú, dân cư đông đúc với những vườn cây trái xum xuê, rậm rạp. Ðặc biệt, mỏm Bắc của Cù Lao và vùng đất bồi do phù sa của Sông Cửu Long tích tụ hàng năm. Trên đầu doi này có một ngôi đình cổ không biết được xây cất từ bao giờ tọa lạc trên một thế đất cao như một ngọn đồi. Từ ngôi đình cổ hoang vắng, người ta có thể quan sát được một vùng sông nước mênh mông bát ngát với những bờ sông cát trắng, nước trong xanh, phong cảnh hùng vĩ hữu tình tuyệt đẹp.

Ranh giới của quận Hồng Ngự về phía Bắc và Ðông Bắc gồm vùng biên giới Miên – Việt, chạy dài tới tận tiền đồn biên phòng Cái Cái giáp ranh tỉnh Kiến Tường (Mộc Hóa). Phía Tây là sông Cửu Long giáp quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang (Long Xuyên). Về phía Tây Bắc, nằm trên bờ Tây của sông Cửu Long chỉ cách Hồng Ngự chừng 5, 6 cây số là quận Tân Châu cũng thuộc tỉnh An Giang. Tại Tân Châu có một đơn vị Hải Quân là Giang Ðoàn 58 Tuần Thám trấn đóng, Phía Nam giáp kinh Ðồng Tiến với khu vực Phước Xuyên trong vùng Ðồng Tháp Mười nổi tiếng chạy dài tới quận Kiến Văn.

Hồng Ngự chiếm địa thế quan trọng nằm ngay yết hầu thủy lộ sông Cửu Long và chặn đường xâm nhập của Cộng Quân từ Cam Bốt tràn xuống. Phần lớn những đồn bót thuộc Chi Khu Hồng Ngự đều nằm dọc ven sông và vùng biên giới để có thể phát hiện và ngăn chặn mọi di chuyển của địch quân. Vì địa thế gồm nhiều sông, kinh, rạch lớn nhỏ nên thông thường có một đơn vị Hải Quân thuộc Vùng IV Sông Ngòi tăng phái để lo việc hành quân, phòng thủ cũng như tiếp tế cho các đồn bót ven sông.

Vào khoảng tháng 3 năm 1973, chiến cuộc tại Miền Nam Việt Nam trở nên vô cùng sôi động sau những cuộc cường tập của Cộng Quân vào khắp 4 vùng Chiến Thuật sau Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. Bên quốc gia láng giềng Cam Bốt, sự tranh chấp cũng đã tới giai đoạn quyết liệt một mất một còn. Cộng quân chiếm được ưu thế, cắt đứt đường tiếp vận quan trọng từ hải cảng Sihanoukville (Kompong Som) về thủ đô Nam Vang. Phi trường Pocheng Tong nằm trong tầm đạn pháo kích nên phi cơ tiếp vận lên xuống rất nguy hiểm và khó khăn. Có thể nói Nam Vang đã bị Cộng quân vây chặt khiến mọi quân dụng, vũ khí, đạn được v.v… cũng như mọi nhu yếu phẩm như gạo, dầu nhớt v.v… tối cần cho sự sống còn của chính quyền Lon Nol không thể nào đưa lọt vào thủ đô Cam Bốt bằng đường bộ cũng như đường hàng không.

Vì vậy, phương tiện duy nhất còn lại để tiếp tế cho Cam Bốt là sông Cửu Long. Thủy lộ này chạy dài từ cửa biển Vũng Tầu, qua bắc Mỹ Thuận, Hồng Ngự, Tân Châu trong lãnh thổ VNCH vượt bến phà Neak Luoeng tới thủ đô Nam Vang. Thủy lộ từ Vũng Tàu lên đến biên giới Miên – Việt thuộc các quận Tân Châu, Hồng Ngự dài khoảng 150 hải lý. Các tầu biển từ Vũng tầu lên Nam Vang thường neo nghỉ đêm tại Ngã Ba Ðèn Ðỏ gần Bắc Mỹ Thuận thuộc tỉnh Vĩnh Long trước khi ngược giòng Cửu Long tiếp tục cuộc hành trình. Lên đến Tân Châu, các thương thuyền lại ngừng một lần nữa neo nghỉ đêm để quan thuế và thay đổi hoa tiêu trước khi vượt biên giới sang Cam Bốt. Ðiểm neo cuối cùng của các thương thuyền trong lãnh thổ Việt Nam này là ngã ba sông ngay trước quận Tân Châu.

Biết được sông Cửu Long là đường huyết mạch duy nhất còn lại có thể giúp cho chính quyền Lon Nol và cả nuớc Cam Bốt sống thoi thóp, Cộng quân quyết định mở một chiến dịch lớn nhằm bóp nghẹt thủy lộ tiếp vận sinh tử này bằng cách chiếm giữ khu vực quận Hồng Ngự. Nếu thành công, Cộng quân sẽ cắt đứt được thủy lộ qua Nam Vang, và thừa thắng, chúng có thể tràn sâu xuống vùng Kiến Tường – Mộc Hóa để tạo áp lực dọc Quốc Lộ 4 thuộc khu vực tỉnh Ðịnh Tuờng là trục lộ tối quan trọng từ Vùng IV về thủ đô Sài Gòn.

Ðể thực hiện ý đồ, khởi đầu, Cộng quân dàn một lực lượng chủ lực quân khá hùng hậu dọc theo vùng biên giới Miên – Việt thuộc các tỉnh Kiến Phong, Châu Ðốc, An Giang và Rạch Giá để nghi binh và tạo áp lực. Ðối diện bên phần đất Cam Bốt, khu vực thuộc các tỉnh Prey Veng, Kandal và Takeo cũng bị chúng tràn ngập. Lúc đó, vào đầu năm 1973, lực lượng Việt Cộng tại vùng này có tới 11 Trung Ðoàn chủ lực cộng thêm quân Khmer đỏ. Ngoại trừ từ 3 tới 4 Trung Ðoàn được phối trí trong phần đất Cam Bốt nhằm mục đích cầm chân lực lượng của Lon Nol, tất cả những đơn vị còn lại đều được xử dụng để tấn công vào khu vực Hồng Ngự.

Vì vậy, tình hình khu vực sông Cửu Long sát biên giới Miên – Việt thuộc khu vực Hồng Ngự trở nên vô cùng trầm trọng vì đôi bên đều quyết tâm dành quyền kiểm soát khu vực có tầm mức chiến lược vô cùng quan yếu này. Cộng quân dùng toàn lực cắt đứt thủy lộ sông Cửu Long để cô lập Cam Bốt và củng cố các trục xâm nhập vào Việt Nam qua ngả biên giới. Phía Hoa Kỳ không còn cách nào khác, phải tiếp tục tiếp tế cho Cam Bốt bằng mọi giá. Lúc đó, đa số các lực lượng tác chiến Hoa Kỳ đều đã rút khỏi Việt Nam trong khuôn khổ thỏa ước ngưng bắn Paris. Một số ít còn lại còn bị các đạo luật Cooper – Church của Quốc Hội Hoa Kỳ ngăn cấm không được than dự các cuộc hành quân bộ chiến ngoài biên giới Việt Nam. Vì vậy, chỉ còn các đơn vị QLVNCH để ngăn chặn đường xâm nhập người và vũ khí của địch quân, và cũng để bảo vệ thủy lộ Cửu Long để việc tiếp tế cho đồng minh Cam Bốt không bị ngưng trệ.

Cộng quân mở đầu chiến dịch bằng cách phong tỏa, tạo áp lực nặng nề mong đánh chiếm quận Hồng Ngự, một thị trấn nhỏ nằm ngay trên cửa rạch Hồng Ngự đổ vào sông Cửu Long. Như trên đã nói, nếu chiếm được Hồng Ngự, không những chúng sẽ khóa chặt được yết hầu của thủy lộ Cửu Long từ Việt Nam sang Cam Bốt, mà đồng thời cũng mở rộng được địa bàn hoạt động và cánh cửa xâm nhập từ Cam Bốt vào khu vực Ðồng Tháp Mười khiến Quốc Lộ 4 từ Hậu Giang về thủ đô Sài Gòn cũng bị đe dọa.

Vào tháng 3 năm 1973, Cộng quân tập trung một lực lượng đông đảo lên tới cấp Sư Ðoàn để tiến chiếm mục tiêu Hồng Ngự. Bộ chỉ huy chiến dịch của Cộng quân đóng tại khu vực Hậu Cần 704 thuộc tỉnh Prey Veng bên Cam Bốt, giáp ranh tỉnh Kiến Phong. Các đơn vị Cộng quân gồm Trung Ðoàn 207 thuộc Công Trường 6, Trung Ðoàn 174 thuộc Công Trường 5, Trung Ðoàn 272 thuộc Công Trường 9 (theo tin tình báo, thành phần còn lại của Công Trường 9 vẫn còn lẩn quẩn tại khu vực rừng cao su Michelin (Dầu Tiếng) thuộc Quân Khu III) và một đơn vị pháo thuộc Trung Ðoàn Pháo 75. So sánh lực lượng đôi bên, Cộng quân hoàn toàn chiếm ưu thế, vừa đông quân, vừa di động, lại có pháo tầm xa hạng nặng yểm trợ. Lực lượng phòng thủ quận Hồng Ngự nhỏ bé không có Chủ Lực Quân, chỉ có Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân cơ hữu và một số giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong tăng phái phòng thủ. Ngoài ra, với những đồn bót cố định phòng thủ sơ sài, các đơn vị cơ hữu của Chi Khu Hồng Ngự là mục tiêu rõ ràng và mồi ngon cho đạn pháo binh Việt Cộng. Chỉ có những giang đĩnh Hải Quân tăng phái với khả năng di động và hỏa lực mạnh trấn giữ mặt sông mới có khả năng chống trả và làm khó dễ được địch quân.

Trung Ðoàn 207 của Cộng quân được xử dụng làm nỗ lực xung kích chính vượt biên giới đánh thẳng vào Hồng Ngự. Lợi dụng yếu tố bất ngờ và hỏa lực mạnh, địch quân dùng chiến thuật Tiền Pháo Hậu Xung và Biển Người tràn ngập một số đồn bót hẻo lánh gần biên giới hay dọc theo kinh rạch do Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân thuộc Chi Khu Hồng Ngự trấn đóng. Ða số những đồn bót khác nằm sâu hơn trong lãnh thổ Việt Nam tuy chưa bị đánh chiếm nhưng cũng bị Cộng quân bao vây, cô lập và uy hiếp nặng nề khiến việc tăng viện hay tiếp tế hầu như không thể thực hiện nổi.

Tuy bị lực lượng địch quân có hỏa lực mạnh và đông hơn gấp bội tấn công bất ngờ, các chiến sĩ Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu thuộc Chi Khu Hồng Ngự lợi dụng địa hình quen thuộc đã chống trả hữu hiệu, tạm thời chặn được bước tiến của địch quân vào quận lỵ. Nhưng trước lực lượng đông đảo của quân chính qui Bắc Việt, phía VNCH chỉ có những đơn vị cơ hữu của Chi Khu chống giữ nên tình hình rất khẩn trương, quận Hồng Ngự có thể bị mất bất cứ lúc nào. Càng ngày, vòng vây của Cộng quân càng xiết chặt. Chúng bắn hàng trăm hỏa tiễn 122 ly vào quận lỵ gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng cũng như tài sản của dân chúng. Quận Trưởng Hồng Ngự là Thiếu Tá Thái Lê Trương, một sĩ quan trẻ, xuất sắc trước đây thuộc Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, tuy đã anh dũng điều động các đơn vị trực thuộc chống trả, nhưng trước tình trạng tuyệt vọng, đã liên tiếp yêu cầu Tiểu Khu Kiến Phong xin Chủ Lực Quân tăng viện khẩn cấp.

Trong lúc đó, về phía Hoa Kỳ, các Pháo Ðài Bay B-52 và các phi cơ chiến lược liên tiếp dội bom vào các vị trí Cộng quân dọc theo bờ Ðông sông Cửu Long từ biên giới Miên – Việt tới Nam Vang để ngăn chặn địch phong tỏa thủy lộ. Những trận dội bom nay đã gây thiệt hại khá nặng cho lực lượng Cộng quân trên đường đánh chiếm Hồng Ngự khiến đà tiến của chúng bị chậm lại phần nào. Ðặc biệt, trong cuộc oanh tạc của Pháo Ðài Bay B-52 vào ngày 20 tháng 3, Cộng quân phải bắt dân dùng xe bò chở đi hàng trăm xác chết và mùi tử khí vẫn còn nồng nặc cả tuần sau đó.

Trong khi chờ đợi quân bộ chiến tới tăng viện, Tiểu Khu Kiến Phong yêu cầu Hải Quân tiếp ứng để ngăn chận Cộng quân tràn qua sông Cửu Long cũng nhu Rạch Hồng Ngự đánh chiếm quận lỵ. Nhưng lực lượng Hải Quân thuộc Vùng IV Sông Ngòi lúc đó chỉ có Giang Ðoàn 31 Xung Phong đã tăng phái chi Tiểu Khu Kiến Phong, lại đang bận hành quân tại vùng Ðồng Tháp Mười giáp ranh tỉnh Ðịnh Tường nên không giúp đỡ gì được. Vì vậy, một phân đội giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong đang hoạt động với Chi Khu Tân Châu thuộc tỉnh An Giang liền được điều động đến tăng viện chi Chi Khu Hồng Ngự. Tuy chỉ có một số giang đĩnh nhưng phân đội này đã ngày đêm tuần tiễu, phục kích, bắn chìm nhiều xuồng chở quân của địch mưu toan di chuyển từ bờ Ðông sông Cửu Long sang cù lao Long Khánh. Vì vậy, áp lực của Cộng quân tương đối giảm vì một gọng kìm tấn công của địch quân đã bị Hải Quân bẻ gẫy.

Nhưng những cuộc dội bom của Không Quân Hoa Kỳ cộng thêm sự yểm trợ ban đầu tại các vùng ven sông rất đắc lực của Hải Quân cũng chỉ có thể giúp các đơn vị Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân tạm thời cầm cự. Viện quân của địch tự do tràn qua vùng biên giới bỏ ngỏ mỗi ngày một tiến gần mục tiêu từ hướng sâu trong nội địa khiến tình hình lại thêm khẩn trương. Một lần nữa, Thiếu tá Trương lại hối thúc Tiểu Khu Kiến Phong xin tăng viện gấp.
VI. Giang Ðoàn 26 Xung Phong Tham Chiến
(Xem Phóng Ðồ Hành Quân)

Trước tình thế mỗi lúc mỗi nguy ngập một mất một còn của Chi Khu Hồng Ngự, Tiểu Khu Kiến Phong vội liên lạc với Quân Ðoàn IV tại Cần Thơ để cầu cứu. Nhưng lúc đó, các đơn vị bộ binh thuộc Sư Ðoàn 9 là đại đơn vị chủ lực chịu trách nhiệm lãnh thổ Tiểu Khu Kiến Phong đang bận tham chiến tại các mặt trận khác nên không thể nào tiếp viện kịp thời. Một lần nữa, Hải Quân lại đảm đang trọng trách. Theo yêu cầu khẩn cấp của Quân Ðoàn IV, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi do Hải Quân Ðại Tá Vũ Ðình Ðào (sau này được vinh thăng Phó Ðề Ðốc) chỉ huy, liền tức tốc ra lệnh Giang Ðoàn 26 Xung Phong rút tất cả các giang đĩnh đang tăng phái ở các nơi khác về tập trung tại hậu cứ Long Xuyên chờ lệnh. Sau đó, toàn bộ Giang Ðoàn do Hải Quân Thiếu Tá Trần Ðỗ Cẩm chỉ huy liền được điều động lên chiến trường Hồng Ngự, cùng với toán giang đĩnh đang hoạt động tại đó để tăng cường lực lượng phòng thủ Chi Khu Hồng Ngự.

Ngay khi tới vùng hành quân, các giang đĩnh của Giang Ðoàn 26 Xung Phong đã phải trực tiếp đương đầu với hỏa lực nặng nề của Cộng quân từ hai bờ sông chờ sẵn. Ðoán biết trước các giang đĩnh Hải Quân là lực lượng tăng viện duy nhất, địch quân đào sẵn các hầm hố, công sự kiên cố bố trí súng nặng bên bờ sông để ngăn chận. Rất may, khúc sông Cửu Long quanh Hồng Ngự khá rộng nên chúng không gây được thiệt hại nào đáng kể. Theo kế hoạch phòng thủ hoạch định với Chi Khu, các giang đĩnh được xử dụng như những đồn bót di động dàn dọc theo bờ sông như bức tường thành để ngày đêm bắn chặn, không cho địch quân di chuyển qua sông. Ngoài nhiệm vụ chặn địch, những giang đĩnh này còn đảm trách việc yểm trợ hỏa lực cũng như tản thương và tiếp tế cho các đồn bót ven sông đã bị địch vây hãm từ lâu.

Với sự chiến đấu quả cảm của các đơn vị Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu thuộc Chi Khu Hồng Ngự, cộng với các giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong ngày đêm tuần tiễu và yểm trợ rất hữu hiệu, Cộng quân tạm thời bị chận đứng. Mũi dùi quan trọng của địch quân toan đánh bọc vào sườn phía Tây của Chi Khu Hồng Ngự bị Hải Quân bẻ gẫy vì chúng không thể vượt qua sông, do đó địch chưa thể chiếm được quận lỵ. Tuy mặt Tây đã có Hải Quân trấn giữ nên tạm thời ổn định, nhưng tình hình tại mặt Bắc lại trở nên vô cùng nguy ngập vì địch quân đã tiến sát bờ rạch Hồng Ngự, chì còn cách Chi Khu vài ba cây số. Hàng ngày, Cộng quân dùng đủ mọi loại vũ khí, kể cả súng bắn thẳng pháo kích vào Hồng Ngự. Các giang đĩnh án ngữ trên mặt sông để chặn địch cũng bị nhắm bắn dữ dội.
VII. Lực Lượng VNCH Tăng Viện
Mãi tới khoảng trung tuần tháng 4 năm 1973, Sư Ðoàn 9 Bộ Binh mới tương đối rảnh tay ở những mặt trận khác nên điều động Trung Ðoàn 15 Bộ Binh và Chi Ðoàn 2 Thiết Quân Vận tới tăng viện. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh lúc đó do Chuẩn Tướng Trần Bá Di chỉ huy, còn Trung Ðoàn 15 Bộ Binh do Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn làm Trung Ðoàn Trưởng. Vào cuối tháng 4 năm 1975, Ðại Tá Cẩn là Tỉnh Trưởng Chương Thiện, đã chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Ông bị Việt Cộng bắt đưa về xử tử tại sân vận động Cần Thơ.

Về phía Hải Quân, một Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm do Hải Quân Thiếu Tá Trần Ngọc Bích xuất thân khóa 11 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang chỉ huy cũng được gấp rút thành lập để phối hợp chặt chẽ với lực lượng Bộ Binh tại chiến trường Hồng Ngự. Liên Ðoàn này được đặt dưới sự điều động của Lực Lượng Ðặc Nhiệm 212 tức là Lực Lượng Tuần Thám do Hải Quân Ðại Tá Nghiêm Văn Phú làm đơn vị trưởng. Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm Hải Quân gồm có các đơn vị sau đây:

1. Giang Ðoàn 26 Xung Phong do Hải Quân Thiếu Tá Trần Ðỗ Cẩm chỉ huy. Ðơn vị này đã tham chiến từ trước.

2. Một phân đội Giang Tốc Ðĩnh (PBR – Patrol Boat River) thuộc Giang Ðoàn 58 Tuần Thám do Thiếu Tá Trần Thanh Khải chỉ huy. Thành phần còn lại của Giang Ðoàn này đang tăng cường mặt trận Phước Xuyên và Tuyên Nhơn trong vùng Ðồng Tháp Mười. Hậu cứ của Giang Ðoàn 58 Tuần Thám đặt tại Tân Châu.

3. Cơ Xưởng Hạm 9613 do Ðại Úy Cơ Khí Nguyễn Duy Tuệ chỉ huy. Ðây không phải là một chiến hạm có máy để tự vận chuyển mà chỉ là một cơ xưởng sửa chữa và tiếp vận nổi neo tại An Long ngay vàm kinh Ðồng Tiến. Cơ Xưởng Hạm này được dùng làm trạm sửa chữa và tiếp vận tiền phương cho các giang đĩnh và cũng là nơi đặt Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm.

4. Tiền Doanh Yểm Trợ Chợ Mới là căn cứ tiếp vận chính, đồn trú tại Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên do Hải Quân Thiếu tá Phạm Văn Tiêu xuất thân khóa 7 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang chỉ huy.

5. Giang Pháo Hạm 328 do Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Như Phú làm hạm trưởng. Thiếu Tá Phú xuất thân khóa 16 Trường Võ Bị Ðà Lạt, nhưng chọn quân chủng Hải Quân sau khi tốt nghiệp nên tiếp tục theo học khóa 13 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Chiến hạm này do Bộ Tư Lệnh Hạm Ðội tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi.

Trong số các đơn vị Hải Quân kể trên, Giang Ðoàn 26 Xung Phong được coi là thành phần chủ lực gồm toàn bộ 19 giang đĩnh đủ loại tham chiến, với đầy đủ khả năng hành quân thủy bộ, yểm trợ hải pháo, chuyển vận, tuần tiễu, án ngữ cũng như tiếp tế. Các giang đĩnh PBR có vận tốc cao, vận chuyển lẹ làng thường được xử dụng trong các cuộc tuần thám và phục kích ban đêm. Chiến hạm tăng phái với các loại đại bác 76 ly và 40 ly đảm trách nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị hành quân.

Ngay khi lực lượng tăng viện tới vùng hoạt động, các đơn vị trưởng lập tức bàn thảo kế hoạch giải tỏa áp lực địch trong vùng và nhất là quét sạch địch quân bố trí tại bờ Ðông sông Cửu Long từ Hồng Ngự lên tới biên giới Miên – Việt. Lúc này, tuy lực lượng địch còn rất mạnh vì chúng chiếm giữ khu vực ven sông ngay phía bắc Chi Khu, nhưng cán cân lực lượng đôi bên không còn chênh lệch nhiều như trước. Hơn nữa, các đơn vị Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu được tăng viện và yểm trợ hữu hiệu nên lên tinh thần, chiến đấu rất hăng hái.
VIII. Các Trận Ðánh Quan Trọng
Liên tiếp trong khoảng thời gian chừng hai tháng (từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1973), các giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong đã tích cực đóng góp vào nỗ lực bảo vệ quân Hồng Ngự chống lại áp lực của Trung Ðoàn 207 Cộng quân. Ngoài nhiện vụ tuần tiễu thường xuyên để ngăn chận địch quân xâm nhập bằng đường sông cũng như phối hợp, yểm trợ Trung Ðoàn 15 Bộ Binh và Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc Chi Khu Hồng Ngự, Giang Ðoàn 26 Xung Phong còn trực tiếp tham dự vào nhiều trận đánh lớn quan trọng.
1. Trận Ðánh Tại Rạch Hồng Ngự
Ngay khi Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9 Bộ Binh vừa đến vùng Hồng Ngự, Thiếu Tá Thái Lê Trương, Chi Khu Trưởng đã yêu cầu các đơn vị Bộ Binh và Hải Quân tăng phái tìm mọi cách đẩy lui địch khỏi bờ Bắc rạch Hồng Ngự. Lý do vì tuy Cộng quân tuy không vượt được con rạch để đánh chiếm Chi Khu, nhưng chúng vẫn hàng ngày pháo kích vào quân Hồng Ngự, gây thiệt hại nặng nề cho dân chúng. Rạch Hồng Ngự ăn thông với rạch Cái Cái chạy tới biên giới Việt – Miên, rộng chừng 100 thước, từ trước tới nay vẫn là “giới tuyến” của đôi bên. Cộng quân tuy chiếm giữ được mặt Bắc nhưng không thể vượt qua con rạch vì bị các giang đĩnh Hải Quân chận đứng. Trong khi đó, lực lượng phòng thủ tuy giữ được mặt Nam nhưng lại không có đủ lực lượng đổ bộ để đẩy lui địch quân. Vùng chợ Hồng Ngự nằm ở mặt Nam tuy chỉ cách Chi Khu chừng một cây số, nhiều khi đã được coi như vùng “sôi đậu” vì địch quân xâm nhập.

Sau khi phối hợp với Trung Ðoàn 15 BB và Chi Khu theo kế hoạch hành quân, Giang Ðoàn 26 Xung Phong lãnh nhiệm vụ dùng 4 LCM-6 chở một Tiểu Ðoàn Bộ Binh sang sông bằng hai đợt. Khi nhiệm vụ chuyển quân hoàn tất, các giang đĩnh sẽ tuần tiễu, án ngữ và yểm trợ cho lực lượng Bộ Binh càn quét bờ Bắc. Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 26 Xung Phong chịu trách nhiệm chỉ huy cuộc hành quân đổ bộ, Tiểu Ðoàn Trưởng Bộ Binh có nhiệm vụ chỉ huy cánh quân sau khi đổ bộ để tiêu diệt địch quân trong vùng mục tiêu chỉ định.

Ðể các giang đĩnh chở quân ủi bãi dễ dàng, Giang Ðoàn 26 Xung Phong chọn giờ đổ quân vào lúc hừng sáng khi mực thủy triều cao nhất để bộ binh có thể lên bờ không bị trở ngại và tràn vào mục tiêu cùng một lúc. Hơn nữa, việc nhận quân vào lúc ban đêm tại bãi ủi ngoài bờ sông Cửu Long nằm về phía Nam Chi Khu Hồng Ngự cũng có thể tránh địch pháo kích và khiến chúng không thể quan sát hay đoán biết ý đồ hành quân.

Theo đúng kế hoạch, sau khi nhận quân, đoàn giang đĩnh di chuyển dọc theo bờ Ðông sông Cửu Long, quẹo phải vào rạch Hồng Ngự đúng giờ dự trù. Tuy con rạch rộng chừng 100 thước, nhưng có rất nhiều hàng đáy của dân đánh cá nên phải di chuyển rất chậm và khó khăn. Một số giang đĩnh yểm trợ gồm LCVP và FOM đi trước dẫn đường, vào sâu trong rạch quá mục tiêu chừng ba cây số, gần một đồn Nghĩa Quân rồi tác xạ dữ dội quanh đồn như để yểm trợ hỏa lực để làm kế hoạch nghi binh. Các giang đĩnh chở quân theo sau vào điểm đổ quân đúng lúc hừng sáng. Chỉ trong vòng 15 phút, nửa Tiểu Ðoàn Bộ Binh đã lên bờ, thiết lập đầu cầu an toàn. Nửa Tiểu Ðoàn còn lại được các LCM-6 đưa thẳng từ bờ Nam qua. Trong lúc lực lượng Bộ Binh chia thành nhiều mũi tiến chiếm các mục tiêu được chỉ định trước, các giang đĩnh Hải Quân di chuyển qua bờ Nam ủi bãi rải rác để sẵn sàng yểm trợ cho cánh quân đổ bộ khi cần.

Khi trời vừa sáng rõ, Cộng quân từ các công sự phòng thủ kiên cố tuy bị bất ngờ nhưng cũng chống trả dữ dội. Từng loạt thượng liên và AK bắn xối xả vào các chiến sĩ Bộ Binh đang lăn xả vào mục tiêu. Nhưng địch phản ứng quá trễ, các chiến sĩ Trung Ðoàn 15 đã tiến đến quá gần, từng trái lựu đạn, từng loạt đạn M-79 thẩy vào hầm hố của chúng khiến nhiều tên bị tan thây tại chỗ. Trận đánh chớp nhoáng kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ, nguyên một Tiểu Ðoàn Cộng quân coi như bị diệt gọn. Tuy nhiên, còn một vị trí súng cối 82 ly được một tổ thượng liên và một toán B-40 yểm trợ vẫn còn hoạt động. Cả ba ổ súng này bố trí theo hìng tam giác, liên hoàn yểm trợ lẫn nhau gây trở ngại không ít cho các chiến sĩ Bộ Binh, sau nhiều đợt xung phong bị thiệt hại khá nặng nhưng vẫn không sao tiêu diệt được.

Tại bờ rạch phía Nam, trên giang đĩnh chỉ huy nơi đặt Bộ Chỉ Huy hành quân thủy bộ gồm Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 26 Xung Phong và Tiểu Ðoàn Trưởng Bộ Binh, mọi người đều nhìn thấy rõ ràng toán Bộ Binh bò sát đất lẻn vào gần vị trí của Cộng quân, nhưng các ổ súng của chúng đều được chôn dấu kỹ trong các công sự đằp bằng đất rất dầy nên lựu đạn và M-79 không phá tan được. Vì vậy, sau nhiều đợt xung phong không những vô hiệu quả, còn có một số binh thương vong. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng Bộ Binh nôn nóng ra lệnh cho binh sĩ tìm đủ mọi cách tấn công tiếp, nhưng vẫn bị chận lại, còn thêm một số binh sĩ vừa chết vừa bị thương kẹt dưới lằn đạn của đối phương. Ðể tránh thiệt hại thêm cho lực lượng bạn, Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 26 Xung Phong đề nghị dùng súng cối 81 ly cơ hữu trên giang đĩnh liên tiếp bắn phủ đầu vào mục tiêu để địch khó ngóc đầu lên quan sát, đồng thời cho Thiết Giáp Ðĩnh “Monitor Combat” với đại bác 40 trực xạ sẽ bất thần tiến sang bên kia sông, chỉ các mục tiêu chừng 300 thước, dùng đại bác 40 ly bắn thẳng vào các ụ đất để san phẳng các ổ súng địch. Tuy nhiên, việc xử dụng hỏa lực Hải Quân bắn thẳng này có thể gây thiệt hại cho số bộ binh đang nằm kẹt giữa mục tiêu và lằn đạn Hải Quân.

Tuy kế hoạch hơi nguy hiểm, nhưng vì không còn lựa chọn nào khác nên được đồng ý và thi hành ngay. Chiếc giang đĩnh chỉ huy rời bãi ủi tiến ra giữa lòng rạch, vừa chạy thật chậm, vừa tác xạ súng cối. Chiếc Thiết Giáp Ðĩnh cũng lập tức tiến sang bờ rạch bên kia, pháo tháp 40 điều chỉnh nhắm thẳng vào mục tiêu trong khi khẩu đại liên 50 gắn chung trong pháo tháp khạc đạn liên hồi để mở đường. Khi đã ủi bãi vào vị trí thuận tiện, khẩu 40 ly lập tức bắn từng loạt đạn vào các ụ đất đặt súng của địch quân. Vì khoảng cách không xa, vị trí của giang đĩnh lại cố định nên việc tác xạ rất chính xác và hiệu quả. Mỗi viên đạn bắn trúng mục tiêu lại thổi bay đi một mảng đất lớn. Sau chừng 50 viên đạn, Cộng quân dường như đoán được ý định của lực lượng tấn công nên chuyển xạ, quay súng nhắm vào các giang đĩnh bắn trả dữ dội. Các ổ thượng liên và B-40 nhắm vào chiếc Thiết Giáp Ðĩnh, trong lúc hàng loạt đạn súng cối bắn ra ngoài rạch nhắm vào các giang đĩnh đang tuần tiễu. Tuy là những mục tiêu lớn và trống trải dưới hỏa lực của Cộng quân, nhưng các giang đĩnh vẫn bám sát khu vực hành quân. Nhiều quả đạn súng cối rơi sát giang đĩnh chỉ huy khiến một số thủy thủ và bộ binh trên giang đĩnh bị thương vì trúng mảnh đạn. Nhưng địch đã không còn đường thoát. Chỉ trong khoảnh khắc, các quả đạn 40 ly liên tiếp bắn trúng mục tiêu đã san bằng những vị trí đặt súng cố thủ cuối cùng của chúng. Khi tiếng súng địch im hẳn trên chiến trường, toán bộ binh trên bờ lập tức tiến vào lục soát các mục tiêu vừa bị Hải Quân bắn phá. Kết quả họ tịch thu được 1 khẩu súng cối 82 ly, 1 thượng liên, 2 khẩu B-40 và 7 khẩu AK.

Kết quả trong trận đánh quan trọng này, địch quân bị đẩy lui khỏi bờ Bắc rạch Hồng Ngự, áp lực của chúng coi như không còn đáng kể. Phía Bộ Binh bị thiệt hại trung bình. Phía Hải Quân, nhiều giang đĩnh bị trúng đạn địch quân nhưng không có chiếc nào bị chìm hay bất khiển dụng. Về nhân sự chỉ có 5 người bị thương, 1 nặng, 4 trung bình. Khi nhận được công điện báo cáo kết qủa hành quân, thượng cấp chỉ thị Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 26 Xung Phong dù đã bị thương, nhưng không nặng lắm nên vẫn tiếp tục ở lại vùng hành quân, không tản thương cho đến khi có lệnh mới.
2. Trận Ðánh Tại Thường Phước
Bị đánh bật ra khỏi khu vực Hồng Ngự, Cộng quân tuy bị thiệt hại khá nặng nhưng chúng vẫn lì lợm cố bám chặt khu Thường Phước nằm trên bờ Ðông sông Cửu Long, đối diện Tân Châu đến biên giới. Tuy không chiếm được Hồng Ngự để khống chế thủy lộ sông Cửu Long, nhưng địch vẫn còn đủ lực lượng phong tỏa bờ Ðông để ngăn chận các thương thuyền từ Việt Nam lên tiếp tế Nam Vang.

Khúc sông ngay trước mặt quân Tân Châu là nơi thương thuyền tập trung để quan thuế kiểm soát và chuẩn bị trước khi ngược dòng Cửu Long. Ðây là điểm neo thứ nhì trên đường đi Nam Vang, sau điểm neo gần Bắc Mỹ Thuận tại khu vực Ngã Ba Ðèn Ðỏ. Nếu Cộng quân còn kiểm soát dược vùng Thường Phước đối diện, không những các thương thuyền tại điểm neo bị đe dọa, mà ngay cả quận Tân Châu thuộc tỉnh An Giang cũng nằm trong tầm pháo kích của chúng.

Về địa thế, Thường Phước là một vùng đất bằng với nhiều cánh đồng trống trải kéo dài tới tận bờ sông đối diện Tân Châu. Bờ sông Cửu Long tại vùng này là phía đất bồi, trong khi Tân Châu là bờ đất lở. Dân cư tại đây rất thưa thớt, đa số sống về nghề ruộng rẫy.

Khi cánh quân của Trung Ðoàn 15 Bộ Binh có Hải Quân yểm trợ từ Hồng Ngự đánh dần lên hướng Tây Bắc, Cộng quân yếu thế lùi dần về vùng biên giới Việt – Miên. Tuy địch rất muốn vượt sông Cửu Long để đánh chiếm Tân Châu, nhưng chúng không thực hiện được ý đồ này vì khúc sông này bị các giang đĩnh thuộc Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm Hải Quân phong tỏa.

Vào koảng cuối tháng 4-1973, Cộng quân thu thập tàn quân chừng một Tiểu Ðoàn đóng chốt tại các vị trí ven sông vùng Thường Phước nhằm uy hiếp các thương thuyền đang từ Vũng Tàu di chuyển tới. Ðể giải tỏa áp lực địch, Bộ Chỉ Huy Hành Quân hỗn hợp Bộ Binh và Hải Quân đặt tại Chi Khu Hồng Ngự liền soạn thảo một kế hoạch hành quân theo thế “Trên Ðe Dưới Búa” đánh vào vùng Thường Phước. Theo kế hoạch này, Trung Ðoàn 15 Bộ Binh có nhiệm vụ đánh bọc hậu để dồn địch ra gần bờ sông, sau đó sẽ án binh tại chỗ để làm nút chặn. Phần Hải Quân sẽ dùng hỏa lức cơ hữu từ các giang đĩnh để tiêu diệt toán Cộng quân này.

Cuộc hành quân diễn tiến đúng theo kế hoạch dự trù. Nhiều toán Cộng quân bị các chiến sĩ Trung Ðoàng 15 Bộ Binh lùa từ phía sau lưng, phải lui dần ra bờ sông. Bờ sông Cửu Long tại Miền Nam thường một bên cao một bên thấp, bên lở bên bồi không đồng đều nhau. Nếu bờ sông nằm giữa luồng nước, đất sẽ bị nước xoi mòn và lở dần. Ngược lại, bờ sông phía đối diện sẽ được đất bồi thêm thành những bãi sông hay cù lao. Thí dụ như vùng bờ sông Sa Ðéc là khu đất lở khiến nhiều nhà cửa bị đổ sụp xuống sộng, trong khi bờ sông bên kia thuộc tỉnh Kiến Phong là vùng đất bồi với nhiều cù lao trù phú. Tân Châu thuộc vùng đất lở nên bờ sông rất cao, còn bờ sông Thường Phước đối diện thuộc khu đất bồi nên bờ sông thấp với những bãi cát chạy lài tới mé sông. Từ bờ sông cao phía Tân Châu, dân chúng có thể dùng mắt thường trông thấy bóng Cộng quân mặc quần áo kaki vàng ẩn hiện trong những ruộng rẫy bên bờ sông đối diện. Các giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong xử dụng đại bác và đại liên bắn thẳng vào đám Cộng quân chưa kịp tìm chỗ trú ẩn. Ðặc biệt, hai giang đĩnh Monitor cập vào những chiếc xáng vét đất neo giữa dòng sông, dùng súng cối 81 ly và đại bác 40 ly liên tục nã đạn vào địch quân.

Trận đánh xảy ra giữa ban ngày, vào khoảng 3 giờ chiều. Dân chúng Tân Châu đứng chật ven bờ sông chứng kiến tận mắt. Dọc theo mé sông Tân Châu có một tòa nhà trắng rất lớn xây bằng bê tông, cao 5 tầng. Nghe nói đây là trụ sở của Ty Quan Thuế thời Pháp thuộc. Từ lan can của toà nhà này, dân chúng theo dõi, vỗ tay reo hò vang dội mỗi khi súng Hải Quân bắn trúng nơi Cộng quân ẩn ẩn trốn phía bên kia sông. Trên những chiếc xáng, nơi hai giang đĩnh chủ lực của Giang Ðoàn 26 Xung Phong đang cột tạm để lấy hướng tác xạ cho chính xác, nhiều nhân viên tự động đem nước ngọt, bia, cơm ra mời những chiến sĩ Hải Quân đang bận rộn bắn vào đầu địch! Có lẽ đây là lần đầu tiên trong hải nghiệp, các chiến sĩ áo trắng thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong vừa uống … bia, vừa giáng những đòn chí tử vào địch quân đang thất thế chơ vơ giữa đồng trống!

Sau trận đánh hiếm có này, một số tù binh cho biết họ thuộc Trung Ðoàn 207 và Tiểu Ðoàn Cộng quân bị gài vào thế gọng kìm chỉ còn chừng 100 tên sông sót chạt thoát về phía biên giới. Về phía Bộ Binh và Hải Quân chỉ bị thiệt hại không đáng kể.

Trận đánh tại Thường Phước chấm dứt với sự thảm bại của Cộng quân. Ðịch bị đẩy xa khỏi vùng Hồng Ngự – Tân Châu về phía biên giới. Áp lực của chúng vào điểm neo thương thuyền tại Tân Châu cũng chấm dứt từ đó.
3. Hộ Tống Thương Thuyền Ði Nam Vang Lần Thứ Nhất: Chạm Trán Với Hỏa Tiển AT-3 Của Cộng Quân
Cũng khoảng trong thời gian đó, tình hình chiến sự tại quốc gia láng giềng Cam Bốt trở nên vô cùng sôi động với phần thắng lợi nghiêng về phía Cộng quân. Tuy vào năm 1970, liên quân Việt – Mỹ đã mở một cuộc hành quân vượt biên qui mô đánh qua Cam Bốt để tiêu diệt các cơ sở hậu cần và lực lượng Cộng quân, nhưng áp lực của chúng đè nặng trên thủ đô Nam Vang vẫn không giảm. Cộng quân, gồm quân Khmer Ðỏ do Pol Pot cầm đầu và đa số là bộ đội Cộng Sản Bắc Việt đã chiếm giữ hầu hết lãnh thổ Cam Bốt, ngoại trừ những thành phố lớn như Nam Vang, Takeo, Konpong Cham, hải cảng Sihanoukville còn được gọi là Kompong Som v.v… Ngoài ra, các trục đường bộ chính dùng để tiếp tế cho thủ đô Nam Vang cũng bị địch quân cắt đứt.

Do đó, để tiếp tế quân nhu cũng như nhu yếu phẩm như gạo, nhiên liệu v.v.. cho chính phủ thân Mỹ Lon Nol, chỉ còn hai con đường chính: một là không vận qua phi trường Pochen Tong nằm sát thủ đô Nam Vang, hai là bằng thủy lộ sông Cửu Long chạy dài từ Vũng Tàu thuộc Việt Nam lên tới Nam vang. Thủy lộ này dài chừng 350 cây số với trên 200 cây số nằm trên lãnh thổ Việt Nam từ Vũng Tàu Tới Tân Châu và khoảng chừng 150 cây số từ Tân Châu qua bến phà Neak Luoeng tới Nam Vang. Trên đường đi tới Nam Vang, đoàn tàu phải vượt qua một địa điểm chiến lược rất quan trọng, đó là bến phà Neak Luoeng thuộc tỉnh Banam, nằm vào khoảng giữa đường từ Tân Châu đến Nam Vang. Neak Luoeng lúc đó là một căn cứ hải quân quan trọng của Cam Bốt, vẫn còn nằm trong tay chính phủ Lon Nol, mặc dầu bị Cộng quân bao vây ngặt nghèo.

Mỗi đoàn tầu tiếp tế cho Nam Vang thường gồm khoảng 15 đến 20 chiếc mang hiệu kỳ nước ngoài. Chừng phân nửa trong số đó những thương thuyền chở hàng nhập cảng thông dụng như rượu, thuốc lá, đồ hộp v.v… Phân nửa đoàn tầu còn lại gồm những tầu dầu và xà lan chở gạo hay đạn dược. Những xà lan nàt đều lấy hàng tại bến tân cảng ngay sát thủ đô Sài Gòn. Ðây là những quân nhu và nhu yếu phẩm do Hoa Kỳ “viện trợ” cho chính quyền Lon Nol để chống lại bọn, Cộng Sản. Những xà lan đều không có máy nên phải dùng tầu dòng để kéo hay đẩy. Tầu dòng tuy nhỏ nhưng máy rất mạnh, có thể kéo hay đẩy thương thuyền trọng tải hàng chục nhàn tấn rất dễ đàng. Tuy nhiên, nếu phải kéo nhiều xà lan trong sông với mỗi sợi giây dòng tầu dài vài, ba trăm thước, đoàn xà lan sẽ rất dài, khó cho tầu dòng vận chuyển tại các khúc quanh hẹp.

Tưởng cũng nên nói thêm, sau này, vào khoảng đầu năm 1975, các tầu dòng kéo xà lan đạn lên Nam Vang đều thuộc hãng tầu Sea Pac nằm bên Khánh Hội. Ðây là một chi nhánh của hãng tầu Alaska Barge trụ sở đặt tại Seattle, tiểu bang Washington. Hãng Alska Barge chuyên dùng tầu dòng để kéo xà lan chở dụng cụ khoan dầu lửa lên vùng Bắc Hải thuộc Alaska. Chính phủ Hoa Kỳ ký giao kèo với hãng này để mướn chở đạn và nhiên liệu lên Cam Bốt. Tuy là một hãng tư nhưng chi nhánh Sea Pac của hãng Alaska Barge làm việc thẳng với cơ quan tình báo CIA của Hao Kỳ, tương tự như hãng máy bay tư Air America vậy. Thuyền trưởng của những tầu dòng Sea Pac sau này đa số là những cựu sĩ quan Hải Quân VNCH cấp tá. Ðại diện của hãng Sea Pac tại Sài Gòn là một người quốc tịch Mỹ tên Vladimir Solomon, với một phụ tá người Việt tên Vân.

Như trên đã nói, vì bị phong tỏa ngặt nghèo nên Cam Bốt hầu như chỉ còn trông cậy vào thủy lộ sông Cửu Long để sống còn. Phi trường Pochengton tuy vẫn còn hoạt động, nhưng vì bị Cộng quân bao vây, lại nằm trong tầm pháo kích nên máy bay lên xuống rất khó khăn. Vả lại, phi cơ không chở được nhiều hàng hóa như tầu biển hoặc xà lan nên việc tiếp tế bằng đường hàng không vừa nguy hiểm, vừa kém hữu hiệu. Cộng quân cũng biết rõ nhược điểm này nên cố bóp chết thủ đô Nam vang bằng cách đánh chiếm Hồng Ngự, được coi nhu yết hầu của thủy lộ sông Cửu Long từ Vũng Tàu lên Nam Vang.

Tuy nhiên, Cộng quân chỉ thu đạt được vài thành công nhỏ lúc ban đầu nhờ xử dụng một lực lượng chủ lực quân lớn cấp Trung Ðoàn bất ngờ tràn qua biên giới áp đảo lực lượng Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân khiêm nhường thuộc Chi Khu Hồng Ngự. Về sau, với sự yểm trợ đắc lực của các giang đĩnh Hải Quân và được Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9 Bộ Binh tăng cường, Cộng quân bị đẩy lui về phía biên giới Việt – Miên như trên đã mô tả.

Khoảng cuối tháng 4 năm 1973, một đoàn thương thuyền khoảng 20 chiếc, trong số này có 5 xà lan chở đầy đạn dược và chất nổ tới Tân Châu trên đường tiếp tế cho Nam Vang. Ðoàn tầu bỏ neo ngay trước Căn Cứ Hải Quân Tân Châu cũng là hậu cứ của Giang Ðoàn 58 Tuần Thám. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho đoàn thương thuyền tại điểm neo được trao phó cho các Giang Tốc Ðĩnh (PBR – Patrol Boat River) của Giang Ðoàn Tuần Thám vì các chiến đĩnh này có vận tốc cao, vận chuyển rất mau lẹ. Tuy tình hình vùng Hồng Ngự – Tân Châu đã tạm thời ổn định, nhưng bờ Ðông của khúc sông từ Tân Châu lên tới biên giới dài khoảng 20 cây số vẫn do Cộng quân kiểm soát. Vì vậy, các Ðơn Vị Trưởng thuộc Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm Hải Quân nhóm họp tại Cơ Xưởng hạm HQ 9613 bỏ neo tại An Long, phía Nam Hồng Ngự để bàn kế hoạch hộ tống đoàn thương thuyền vượt qua biên giới. Chuyến hộ tống này sẽ rất gian nam, nguy hiểm vì số thương thuyền khá đông, địch lại biết rõ ta phải di chuyển qua thủy lộ duy nhất nên chắc chắn chúng đã đặt sẵn các ổ súng nặng chờ sẵn.

Bờ Ðông sông Cửu Long đối diện Tân Châu tức là khu vực Thường Phước là vùng đất bồi nên bờ sông tương đối bằng phẳng và thấp nên địa thế không thuận tiện cho địch quân đặt những ổ phục kích. Tuy nhiên, khi vượt quá lên phía Bắc chừng 5 cây số, từ đồn Mương Kinh lên tới biên giới, bờ sông này lại trở thành khu đất lở với vách dựng đứng như một bức tường, mặt nước thấp hơn bờ sông chừng 10 thước. Do đó, các giang đĩnh tuy có hỏa lực mạnh, nhưng vì quá thấp nên vô hiệu đối với các ổ phục kích của Cộng quân đặt trong những hầm hố và địa đạo đào trên mặt bờ sông. Khi nước lớn (nước chảy ngược lại theo hướng Nam – Bắc, từ biển đổ vào sông), tầm súng của các giang đĩnh tuy tạm thời có thể bằn vào những mục tiêu trên bờ sông, nhưng những tầu kéo xà lan đạn lại rất khó vận chuyện khi bị dòng nước từ phía sau đẩy tới (nước xuôi). Vì sông hẹp nên các thương thuyền và xà lan phải đi theo đội hình hàng dọc, chiếc này nối đuôi chiếc kia, cách nhau chừng vài, ba trăm thước. Trong lúc di chuyển, điều tối quan trọng là các thương thuyền phải giữ đúng thứ tự và khoảng cách trong đội hình. Chỉ cần một thương thuyền di chuyển không đúng tốc độ trong đoàn, có thể những chiếc khác sẽ bị rối loạn, cả đoàn bị dồn lại hay đụng vào nhau. Ngoài ra, nếu bị tấn công trong lúc di chuyển, rất có thể các thủy thủ trên thương thuyền bị hoảng hốt vì không quen với súng đạn khiến đoàn tầu bị rối loạn hàng ngũ.

Biết được những trở ngại trên, Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm Hải Quân quyết định cho đoàn thương thuyền di chuyển ngay vào lúc con nước lớn vừa đứng và bắt đầu ròng. Căn cứ vào lịch thủy triều của Hải Quân, giờ thuận tiện nhất là lúc 9 giờ sáng. Chiến thuật hộ tống được hoạch định như sau:

– Ðoàn thương thuyền di chuyển theo đội hình hàng dọc như thường lệ, mỗi chiếc cách nhau chừng 200 thước, vận tốc khoảng 7 – 8 hải lý một giờ. Như vậy, đoàn thương thuyền dài chừng 4 cây số.

– Các tầu dòng kéo xà lan đạn chạy chậm sẽ xen kẽ với những thương thuyền.

– Các giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong có hỏa lực mạnh sẽ dẫn đầu để bắn mở đường. Nhưng giang đĩnh nhỏ còn lại cùng với các PBR thuộc Giang Ðoàn 58 Tuần Thám di chuyển chung với đoàn thương thuyền để sẵn sàng yểm trợ khi cần.

– Những giang đĩnh hộ tống vừa di chuyển, vừa bắn tối đa vào bờ Ðông để mở đường và uy hiếp tinh thần đối phương.

– Trong trường hợp bị tấn công vào giữa đoàn thương thuyền, những chiếc nào đã qua được ổ phục kích vẫn tiếp tục đi qua biên giới, những chiếc òn lại sẽ tạm ngưng máy tại chỗ để tầu Hải Quân tập trung hỏa lực tiêu diệt ổ phục kích địch.

Kế hoạch chuẩn bị xong xuôi, sáng hôm sau, đoàn thương thuyền nhổ neo lúc trời sáng để sắp xếp đội hình di chuyển. Khúc sông từ Tân Châu lên tới biên giới dài chừng 35 cây số, dự trù đoàn thương thuyền sẽ vượt qua trong vòng 4 tiếng đồng hồ, gồm 1 tiếng để vận chuyển vào đúng thứ tự giang hành và khoảng 3 tiếng để di chuyển.

Ðúng 9 giờ sáng, chiếc Thiết Giáp Ðĩnh của Giang Ðoàn 26 Xung Phong dẫn đầu đoàn tầu rời Tân Châu, theo sau là hai cặp FOM yểm trợ. Những thương thuyền và xà lan đạn theo kế tiếp xen kẽ bằng những giang đĩnh Hải Quân hộ tống. Khoảng 10 giờ sáng, dưới hỏa lực mạnh mẽ của đại bác 40 ly trực xạ và súng cối 81 ly mở đường bắn vào những điểm nghi ngờ bên bờ Ðông, đoàn tầu đi đến đồn Mương Kinh do Ðịa Phương Quân chi khu Hồng Ngự trú đóng an toàn. Nhưng khi vượt qua địa điểm này chừng vài cây số, Cộng quân từ những ổ phục kích đào sẵn trên bờ dưới nhưng lùm cây rậm rạp bắt đầu dùng súng B-40 bắn vào đoàn tầu khá dữ dội.

Theo đúng chiến thuật đã được trù tính trước, các giang đĩnh tập trung hỏa lực phản pháo dữ dội vào những ổ phục kích trên bờ sông. Những viên đạn đại bác 40 ly, 20 ly, M-79 và đại liên 50 cầy nát bờ sông làm tung lên một lớp bụi mỏng màu đỏ. Cây cối ngã gục dưới làn mưa đạn như bị đốn bằng một lưỡi hái khổng lồ. Một đoàn giang đĩnh đủ loại gồm cả các PBR trên 20 chiếc di chuyển thật chậm theo hướng Bắc, đội hình hàng dọc dài hơn 2 cây số khai hỏa tối đa về phía hữu hạm. Có lẽ vì hỏa lực quá mạnh của Hải Quân khiến đối phương hoảng sợ nên chúng chưa bắn trúng một thương thuyền nào. Các thương thuyền lúc đầu mất bình tĩnh khi bị bắn nên đội hình hơi rối loạn, nhưng khi thấy các giang đĩnh hải Quân phản pháo hữu hiệu, và nhất là thấy địch không gây được thiệt hại nào nên họ lại vững tâm di chuyển theo đúng đội hình đã được chỉ định. Dù bị tấn công, đoàn tầu vẫn di chuyển với tốc độ bình thường. Lúc này, nước đã bắt đầu ròng nên các tầu kéo xà lan đạn vận chuyển tương đối dễ dàng hơn, dù phải tăng máy để giữ đúng đội hình.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, khi đoàn tầu gần tới mỏm cù lao đối điện đồn Bến Ðình gần biên giới, đột nhiên từ bờ sông phía Ðông lóe ra nhiều đốm lửa như những làn chớp, tiếp theo là những luồng khói trắng bay ra hướng đoàn tầu. Chiếc xà lan đạn di chuyển ở vị trí thứ 5 bỗng nổ tung. Cũng cùng lúc đó, trên giang đĩnh chỉ huy của Giang Ðoàn 26 Xung Phong, các thủy thủ phát hiện một sợi giây nhỏ như sợi tơ từ trên trời rơi xuớng vắt ngang tầu. Thì ra, đây là sợi giây làm bằng Fiber Optic dùng để điều khiển loại hỏa tiễn AT-3, còn có tên là “Sagger” do Nga Sô chế tạo. Khi rời giàn phóng, hỏa tiễn AT-3 có mang theo một sợi giây nhỏ để xạ thủ có thể điều chỉnh đường bay trúng vào mục tiêu. Loại hỏa tiễn này thường chỉ được dùng để chống chiến xa, tương tự như loại hoả tiễn TOW (Tube-launch Optically-tracked Wire-guide) của Hoa Kỳ. Có lẽ đây là lần đầu tiên trên chiến trường Việt Nam, Cộng quân xử dụng loại vũ khí tối tân này để bắn các giang đĩnh. May mắn, chiếc hỏa tiễn nhắm vào giang đĩnh chỉ huy đã bay hơi cao nên trật mục tiêu. Có lẽ xạ thủ không giám ngóc đầu lên để điều khiển vì bị hỏa lực dữ dội của các giang đĩnh áp đảo.

Tuy nhiên, chiếc xà lan đạn bị trúng hỏa tiễn phát nổ dữ dội. Không may, chiếc xà lan này chở toàn những bành đạn đại bác 105 và 155 ly nên sức tàn phá vô cùng khủng khiếp. Nguy hiểm hơn nữa, chiếc tầu dòng xà lan này đã mở dây kéo nên xà lan gặp nước ròng trôi ngược về phía đoàn tầu, vừa trôi đạn vừa nổ dữ dội với lửa và khói bốc lên mù mịt cả một khúc sông.

Tình thế lúc đó hết sức nguy hiểm và căng thẳng. Nếu tiếp tục cuộc hành trình, chắc chắn những thương thuyền to lớn và chậm chạp kia sẽ là những mục tiêu tốt cho các dàn hỏa tiễn AT-3 khá chính xác đang chờ sẵn trên bờ sông. Ðó là chưa kể chiếc xà lan đạn bị nổ đang từ từ trôi ngược về hướng đoàn tầu, có thể tấp vào bất cứ một giang đĩnh hay thương thuyền nào gây thiệt hại nhiều thêm. Chẳng may nếu có một thương thuyền nào bị chìm, thủy đạo duy nhất sẽ bị tắc nghẽn! Do đó, ngoại trừ 4 thương thuyền đã vượt qua được biên giới hiện do Hải Quân Cam Bốt hộ tống, tất cả những chiếc còn lại được lệnh lập tức quay về điển neo Tân Châu dể chờ lệnh mới.

Ðể giải quyết chiếc xà lan đạn phát nổ đang trôi trên sông, Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 26 Xung Phong đã ra lệnh dùng súng đại bác 40 trực xạ bắn, nhưng lệnh chưa kịp thi hành thì xà lan tấp vào một đầu cồn không có dân cư tiếp tục nổ tới hết đạn nên không gây thiệt hại nào đáng kể.
4. Hộ Tống Lần Thứ Hai: Ðưa Thương Thuyền Qua Biên Giới “Bằng Mọi Giá”!
Trong chuyến hộ tống không hoàn toàn thành công vừa qua, tuy có 4 thương thuyền vượt được biên giới, nhưng cả 4 tầu dầu tiếp tế nhiên liệu khẩn cấp cho Nam Vang đều bị kẹt lại. Cam Bốt lúc đó đang bị thiếu hụt nhiên liệu trầm trọng vì không được tiếp tế đã gần hai tháng. Vì vậy, khi được tin các tần dầu đều phải quay về, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, có lẽ dưới áp lực của người Mỹ, đã gửi công điện thượng khẩn ra lệnh “Ðưa thương thuyền qua biên giới bằng mọi giá!” Lệnh này đã làm Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm Hải Quân rất khó xử, vì “bằng mọi giá” có nghĩa là chấp nhận thiệt hại đáng kể. Khi được yêu cầu giải thích rõ ràng thêm, thượng cấp cho biết: “Nếu cần, các giang đĩnh phải hy sinh nằm giữa lằn đạn địch và đoàn thương thuyền như một lớp khiên chắn đạn để đưa các thương thuyền qua biên giới”!

May mắn, tình hình chiến sự tại mặt trận Hồng Ngự lúc đó tương đối đã lắng dịu nên lực lượng Hải Quân có thể dồn hết nỗ lực vào công tác hộ tống. Ngoài ra, Trung Ðoàn 15 Bộ Binh cũng khá rảnh rang, đang càn quét và đẩy lui tàn quân địch về bên kia biên giới nên cũng có thể tiếp tay.

Về phía Hải Quân, nếu thi hành ngay chỉ thị “bằng mọi giá” của thượng cấp khi địch quân vẫn còn làm chủ bờ Ðông, các giang đĩnh và quân số sẽ bị thiệt hại nặng mà thương thuyền chưa chắc đã đi được. Ngược lại, nếu chần chờ, có thể Nam Vang sẽ hết nhiên liệu, hậu quả sẽ không lường được.

Sau khi bàn tính kỹ càng, các Ðơn Vị Trưởng Hải Quân đồng ý cần phải phối hợp với Bộ Binh để nhổ bứt các chốt AT-3 dọc theo bờ Ðông nếu muốn hoàn tất hộ tống. Dù sao, cuộc hành quân thủy bộ này cũng sẽ giúp Trung Ðoàn 15 sớm hoàn thành nhiệm vụ của họ là quét sạch Cộng quân khỏi khu vực từ Hồng Ngự đến biên giới. Kế hoạch hành quân vào ngày N được Bộ Binh và Hải Quân đồng ý như sau:

– Một cánh quân thuộc Trung Ðoàn 15 Bộ Binh từ vùng Thường Phước, mặt Bắc của Hồng Ngự, sẽ đánh dọc theo theo bờ Ðông của sông Cửu Long từ hướng Nam lên Bắc, hướng về biên giới Việt – Miên.

– Hải Quân sẽ được tăng phái 2 Ðại Ðội Bộ Binh, bất thần đổ bộ lên bờ Ðông gần biên giới, nơi nghi ngờ có các giàn hỏa tiễn AT-3. Nhiệm vụ của cánh quân này là càn quét từ Bắc xuống Nam, vừa đi vừa lục soát và tiêu diệt các ổ phục kích của địch. Sau đó, cánh quân này sẽ bắt tay với với thành phần từ mặt Nam đánh lên.

– Khi đổ bộ xong, các giang đĩnh sẽ lãnh nhiệm vụ yểm trợ cho Bộ Binh lục soát trên bờ, đồng thời án ngữ ngay tại những điểm nghi ngờ có ổ phục kích để hộ tống đoàn thương thuyền qua biên giới.

– Ðể đánh lạc hướng Cộng quân, phao tin đồn tại Tân Châu rằng các thương thuyền sợ bị thiệt hại nên sẽ nhổ neo trở về Vũng Tàu, bỏ ý định đi Nam Vang.

Tưởng cũng nên nói rõ, Cộng quân đã khai thác triệt để địa thế thiên nhiên của bờ Ðông sông Cửu Long. Vì bờ sông cao như một bức tường thành dựng đứng nên chúng đào hầm từ trên mặt đất trổ ra bờ sông thành những lỗ châu mai như hình chữ Y lộn ngược trông xuống lòng sông. Từ những lỗ châu mai này, địch đặt các ổ súng B-40, hỏa tiễn AT-3 có thượng liên yểm trợ có thể nhắm bắn dễ dàng vào các tầu bè di chuyển trên sông. Khi giang đĩnh phản pháo, đạn đại liên nếu may mắn lọt vào lỗ châu mai cũng không gây thiệt hại đáng kể. Chỉ những loại đạn “chạm nổ” như đại bác 40 ly, đại bác 20 ly hay M-79 bắn trúng ngay mục tiêu mới làm chúng hoảng sợ.

Kế hoạch chuẩn bị xong xuôi, trong khi chờ đợi ngày N để hộ tống đoàn thương thuyền lên đường, các giang đĩnh Hải Quân vẫn ngày đêm tuần tiễu khúc sông từ Tân Châu tới biên giới để phát hiện và ghi nhận những địa điểm phục kích của địch quân. Giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong tuy di chuyển chậm chạp hơn những PBR của Giang Ðoàn Tuần Thám, nhưng lại có hỏa lực khá mạnh nên được dùng làm chim mồi dụ địch quân lộ diện.

Ban ngày, những chiếc LCM-6 chậm chạp qua lại trên sông với nước chứa đầy hầm tầu khiến giang đĩnh chìm sâu hơn dưới mặt nước. Ðây là kế hoạch nghi binh khiến địch quân lầm tưởng những giang đĩnh chuyên về chuyển vận này đang chở quân hay chiến cụ đến một địa điểm bí mật nào đó. Ngoài ra, giang đĩnh di chuyển càng thấp sát mặt nước bao nhiêu, địch quân lại càng khó bắn trúng bấy nhiêu vì mục tiêu nhỏ hơn. Khi Cộng quân bắn ra, những giang đĩnh “chim mồi” di chuyển sát bờ sông phía Tây này chỉ bắn trả cầm chừng, vì nhiệm vụ chính là ghi nhận các tổ súng nặng đặt trong các miệng hầm thẳng đứng của chúng. Ban đêm, những giang đĩnh chuyển vận chậm chạp với tiếng máy lớn này dễ khiến cho địch quân để ý. Trong lúc đó, các PBR với vận tốc cao, di chuyển nhẹ nhàng sẽ lẻn sát bờ sông, dưới tầm súng của Cộng quân để dùng súng phóng lựu M-79 bắn vào các lỗ châu mai đã bị phát hiện của chúng. Chiến thuật này tỏ ra khá hữu hiệu vì đã tiêu diệt được một số ổ phục kích của địch quân.

Khoảng nửa đêm ngày N-1, Giang Ðoàn 26 Xung Phong nhận 2 Ðại Ðội thuộc Trung Ðoàn 15 Bộ Binh tại Hồng Ngự. Ba chiếc LCM-6 chở quân được 2 cặp FOM và chiếc Thiết Giáp Ðĩnh hộ tống lên đường hướng về phía biên giới cách Hồng Ngự chừng 40 cây số, Những giang đĩnh còn lại vẫn tham dự cuộc khuấy rối hàng đêm như thường lệ với các PBR của Giang Ðoàn 58 Tuần Thám.

Nhận quân xong, toán giang đĩnh rời bãi ủi Hồng Ngự, trực chỉ hướng Bắc. Ðêm không trăng, những lùm cây rậm rạp bên bờ sông dường như dầy đặc hơn, trở thành những bóng ma đe dọa. Xa xa, chếch về hướng tay trái, ánh đèn điện của thị xã Tân Châu phản chiếu xuống mặt sông Cửu Long trông như những cặp mắt còn ngái ngủ. Tuy phải di chuyển về đêm, nhưng tất cả đèn trên các giang đĩnh đều được tắt hết để bảo mật. Các chiến sĩ Hải Quân đã quá quen thuộc với khúc sông này nên việc điều khiển con tầu không có gì trở ngại. Mọi người đều nóng lòng mong cho tới ngày hôm sau để sớm hoàn tất chuyến hộ tống gay go này. Trên cặp FOM dẫn đầu, vị Trung Úy trưởng toán đổ bộ bận rộn liên lạc trên máy truyền tin PRC-25 với những “con cá” trong đoàn, đồng thời duyệt lại kế hoạch với toán đổ bộ. Ðoàn tầu di chuyển theo đội hình hàng dọc, mỗi chiếc cách nhau chừng 100 thước, vận tốc chừng 5 hải lý một giờ. Mặc dù với vận tốc chậm, nhưng tiếng máy dầu cặn như vẫn gầm rú trong đêm vắng, chắc chắn không thể nào tránh được sự chú ý của địch quân.

Chính vì không che mắt được địch quân nên Bộ Chỉ Huy Giang Ðoàn 26 Xung Phong đã có kế hoạch hy vọng có thể khiến địch quân lạc hướng. Vừa qua khỏi Tân Châu với những ánh đèn vàng vọt hầu như đã nằm sau lái, tới đầu cồn đối diện với đồn Mương Kinh, đoàn giang đĩnh đột nhiên được tách ra làm hai. Các giang đĩnh chở quân và hộ tống đổi đường ép qua phía tay trái đi vào lạch sông nhỏ phía trong cồn để tránh bị phát hiện. Giờ này mức thủy triều cò khá cao nên không sợ bị mắc cạn. Chắc chắn vì đêm tối và bị cồn che khuất, Cộng quân bên kia bờ sông sẽ không nhận ra toán giang đĩnh quan trọng này. Những chiếc còn lại trong đoàn vẫn tiếp tục di chuyển phía ngoài cồn như trong các cuộc tuần tiễu thường lệ hàng đêm.

Rạng sáng ngày N, các LCM-6 chở quân đã tới sát đồn Bến Ðình gần biên giới. Còn gần 2 tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ G nên tạm ủi bãi, nằm chờ tại đầu cồn. Lúc này, chiếc Giang Pháo Hạm 328 do Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi tăng phái để yểm trợ hỏa lực cũng đã đến Tân Châu và đang vận chuyển vào vị trí yểm trợ hải pháo. Chiến hạm này do Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Như Phú làm Hạm Trưởng. Thiếu Tá Phú nguyên xuất thân Khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, nhưng chọn Quân Chủng Hải Quân nên sau khi tốt nghiệp lại theo học Khóa 13 SQHQ Nha Trang. Giang Pháo Hạm 328 được trang bị một khẩu đại bác 76 trước mũi và nhiều dàn đại bác 40 ly và 20 ly. Quan trọng hơn, vì chiến hạm có tầm súng cao, lại có hỏa lực mạnh nên có thể tiêu diệt những mục tiêu nằm sâu trong đất liền. Vì Cộng quân đang chiếm giữ bờ sông phía Ðông từ đồn Mương Kinh lên tới biên giới nên chiến hạm được chỉ định “nấp” sau đuôi cồn gần đồn Mương Kinh để tránh hỏa tiễn AT-3 của địch.

Ðúng 8 giờ sáng ngày N, các đơn vị hành quân đã vào đúng vị trí. Từ vùng Thường Phước, cánh Bộ Binh di chuyển dọc theo bờ sông, đánh về hướng Bắc. Trong lúc đó, Giang Pháo Hạm 328 tác xạ mở đường vào những mục tiêu nghi ngờ có địch ẩn núp. Riêng Giang Ðoàn 26 Xung Phong có nhiệm vụ đổ quân vào bờ đối diện với đồn Bến Ðình cũng thi hành nhiệm vụ giao phó. Tất cả các giang đĩnh đều dàn hàng ngang với những chiếc LCM-6 chở quân nằm giữa đội hình, từ đồn Bến Ðình đâm thẳng qua mục tiêu đối diện bên bờ Ðông, vừa di chuyển vừa tác xạ tối đa để dọn bãi. Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn chừng 15 phút, các giang đĩnh đã đến điểm đổ bộ. Trong lúc những giang đĩnh yểm trợ ủi bãi cách nhau chừng 100 thước và tác xạ tối đa vào các bụi tre và lùm cây trước mũi, các LCM-6 chở quân hạ cửa đổ bộ dể quân lên bờ. Ðúng lúc này, có một trục trặc nhỏ khiến cuộc đổ quân không được xuông xẻ như ý muốn: cửa đổ bộ của một LCM-6 bị kẹt nên không hạ xuống được. Tình trạng khá nguy hiểm vì nếu lúc này địch bắn B-40 hay hỏa tiễn vào giang đĩnh, toán bộ binh kẹt trong lòng tầu sẽ bị thiệt hại nặng. Ðể giải quyết tình trạng khó khăn này, lậo tức hai chiếc FOM được điều động đến cập hai bên chiếc LCM-6 để bộ binh dùng làm cầu lên bờ. Rất may, Cộng quân có lẽ vì bị bất ngờ nên vẫn chưa thấy phản ứng.

Hai Ðại Ðội Bộ Binh vừa lên bờ đã tràn vào các bụi tre và lùm cây trước mặt để lục soát, trong lúc các giang đĩnh rời bải ủi, di chuyển với vận tốc chậm theo hướng Nam phía Tân Châu, vừa yểm trợ cho toán Bộ Binh trên bờ, vửa chuẩn bị nằm đường đón đoàn thương thuyền đang được những PBR hộ tống từ Tân Châu lên.. Chỉ chừng nửa tiếng đồng hồ sau khi đổ bộ, toán Bộ Binh báo cáo đã tịch thu được 3 giàn hỏa tiễn AT-3 còn nguyên vẹn, mỗi giàn có 2 trái hỏa tiễn đang trong tình trạng sẵn sàng phóng. Những giàn hỏa tiễn này được đặt trong hầm hố đào dưới gốc các bụi tre gần bờ sông. Cạnh đó, còn có 9 địch quân bị banh xác vì hỏa lực dọn bãi của các giang đĩnh và 2 tên bị thương bị bắt sống.

Lúc đó, các thương thuyền cũng đã bắt đầu ló dạng, trên đường tiến tới biên giới. Các ổ súng đại bác trên Giang Pháo Hạm 328 hoạt động tối đa, bắn vào các vị trí do Bộ Binh yêu cầu yểm trợ. Khoảng 11 giờ sáng, khi chiếc thương thuyền đầu tiên đã đến gần biên giới, các giang đĩnh ghi nhận Công quân bắn ra 3 trái hỏa tiễn AT-3 hay B-40 hoặc súng cối phát nổ dưới sông, không gây thiệt hại đáng kể nào cho các thương thuyền cũng như giang đĩnh. Chỉ có một số nhân viên Hải Quân bị thương nhẹ, trong số đó Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 26 Xung Phong trúng mảnh đạn vào cánh tay trái.

Khoảng 12 giờ trưa, các thương thuyền vượt qua biên giới an toàn và được bàn giao cho toán giang đĩnh thuộc Hải Quân Cam Bốt đang chờ sẵn. Hoàn tất công tác hộ tống, các giang đĩnh Hải Quân dồn hết nỗ lực để yểm trợ cho hai cánh quân đang lục soát trên bờ. Hai cánh quân Bộ Binh vẫn tiến dọc bờ sông theo hướng ngược chiều nhau, vừa đi vừa lục soát. Họ báo cáo bắn hạ khoảng 30 tên địch tại chỗ và phát hiện nhiều tên khác đã bị chết vì hỏa lực của Hải Quân. Ðến chiều cùng ngày, hai toán Bộ Binh bắt tay nhau tại một địa điểm cách đồn Mương Kinh chừng 3 cây số về hướng Bắc. Cuộc hành quân coi như hoàn tất.

Tổng kết hoạt động trong ngày, Hải Quân hoàn tất việc hộ tống đoàn thương thuyền lên Nam Vang trong khi Bộ Binh quét sạch địch quân ra khỏi lãnh thổ quận Hồng Ngự. Thiệt hại phía Cộng quân bị chết 49 tên đếm xác được tại chỗ, 2 tên bị bắt sống, 3 giàn hỏa tiễn AT-3 còn nguyên vẹn bị tịch thu cùng với 3 súng cộng đồng và 19 súng cá nhân. Bạn thiệt hại 3 chết và 16 bị thương. Phía Hải Quân có 3 bị thương nhẹ.

Nhiệm vụ tăng phái cho Tiểu Khu KIến Phong và Trung Ðoàn 15 Bộ Binh để giải tỏa áp lực địch tại vùng Hồng Ngự của Giang Ðoàn Xung Phong coi như hoàn tất. Tổng cộng, toàn bộ đơn vị đã liên tục hành quân trong hai tháng ròng rã.
IX. Ðoạn Kết
Chiến dịch Hồng Ngự chỉ là một cuộc hành quân tương đối nhỏ cấp Trung Ðoàn, nhưng kết quả lại rất lớn: bẻ gẫy ý đồ phong tỏa thủy lộ sông Cửu Long của Cộng quân, đồng thời với sự yểm trợ hữu hiệu của Hải Quân, địch đã bị thiệt hại rất nặng với tổng cộng 422 xác định đếm được tại chỗ. Theo cung từ của tù binh, vào cuối tháng 5/1973 khi chiến dịch chấm dứt, Trung Ðoàn 207 của Cộng quân coi như không còn khả năng tác chiến, mỗi Tiểu Ðoàn của chúng còn lại không đầy 100 tên. Tuy thiệt hại về phía QLVNCH tương đối nhẹ, nhưng thường dân bị chết và bị thương khá nhiều vì đạn pháo kích của địch quân. Chỉ riêng trong tuần lễ thứ nhì của tháng 4, Cộng quân đã pháo kích trên 100 trái hỏa tiễn vào Hồng Ngự.

Vai trò quan trọng của Giang Ðoàn 26 Xung Phong trong chiến dịch Hồng Ngự được coi như hoạt động tiêu biểu của các Giang Ðoàn Xung Phong thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi. Tuy hậu cứ đóng tại Long Xuyên, nhưng các giang đĩnh thuộc Giang Ðoàn 26 Xung Phong đã từng có mặt tại hầu hết những vùng xa xôi hẻo lánh như Ðồng Tháp Mười, Cái Cái, hay các địa danh xa lạ thuộc vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ như Năm Căn, Ðồng Cùng, Cái Ngay, Cái Nước, Thới Bình, Khai Quang, Biện Nhị, Sông Trèm Trẹm, Vị Thanh, Hỏa Lựu, Gò Quao v.v… Tại bất cứ chiến trường nào dù nguy hiểm đến đâu, các chiến sĩ của Giang Ðoàn cũng ghi lại những chiến tích vẻ vang, dù lắm khi phải đổi bằng máu.

Giang Ðoàn 26 Xung Phong không những là một đơn vị Hải Quân kỳ cựu, nồng cốt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà còn là một đơn vị ưu tú được các quân binh chủng bạn cũng như đồng bào mến phục. Hiện nay, có rất nhiều cựu chiến sĩ áo trắng đã từng phục vụ tại Giang Ðoàn 26 Xung Phong đang lưu lạc tại Hoa Kỳ hay những quốc gia khác trên thế giới. Ða số các bạn này vẫn thường nhắc nhở tới những giòng sông nơi họ đã từng anh dũng chiến đấu và đổ máu trong trách vụ bảo vệ quê hương. Ngoài ra, Long Xuyên với cầu Hoàng Diệu, công viên Nguyễn Du, trường Thoại Ngọc Hầu v.v… cùng những tà áo dài duyên dáng cũng là một điểm dừng chân đáng nhớ trong binh nghiệp …

Advertisements