CT.An Lộc 1972.Phần Kết

CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 – Phần Kết

1- TÌNH QUÂN DÂN NHƯ CÁ VỚI NƯỚC

Theo tổ chức của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, mỗi đơn vị tác chiến ở cấp Trung Đoàn, Lữ Đoàn, Chiến Đoàn đều có 1 Đại Đội Quân Y, có một bác sĩ Quân Y và nhiều Y Tá đi theo đơn vị hành quân ra mặt trận. Có nghĩa là tại mỗi mặt Đông, Tây, Nam, Bắc đều có một hay hai vị Quân Y Sĩ và nhiều toán cứu thương. Hãy đọc một đoạn trích ngắn trong bản phụ đính của Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường trong tác phẩm “Trung Đoàn 8 Bộ Binh tại An Lộc” như sau (có thể xem như là tiêu biểu cho cả 4 mặt Đông, Tây, Nam, Bắc về vần đề Y Tế và chung sự) ;

Ngay khi địch ngưng tấn công, việc đầu tiên Trung Đoàn 8 cần phải giải quyết gấp là di tản thương binh và thường dân bị thương nặng về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, để Bác Sĩ Quân Y Trung Đoàn chăm sóc, kế đó là gom hết tất cả các xác chết đồng đội, thường dân và cả xác của Việt Cộng bỏ lại chiến trường, chôn để tránh mùi hôi thối do xác chết xông lên.

Kiểm tra tình trạng quân số và thương binh thì từ ngày 13 tháng 4, khi bắt đầu nhập cuộc chiến đến ngày hôm nay, tổn thất thương vong của các tiểu đoàn lên đến gần phân nửa. Số người tử thương thì đã giải quyết chôn ngay tại chỗ, số bị thương thì tồn đọng rất nhiều, vì ngày nào cũng có nhiều thương binh nhưng không tản thương được. Do đó, Quân Y tạm thời giải quyết : số người bị thương nhẹ còn đi đứng được thì sau khi băng bó xong cho trở về đơn vị cũ, cầm súng tiếp tục chiến đấu trở lại. Do đó, có người bị thương 2 hoặc 3 hay nhiều lần. Có người lần trước bị thương nhẹ, lần sau bị thương nặng. Cũng có những thương binh nhẹ sau đó lại tử thương. Còn những thương binh nặng thì để nằm đó chờ tản thương, sống thoi thóp, rồi có người mòn mỏi chết dần

Đại Đội 52 Quân Y báo cáo trong khu vực của Trung Đoàn 8 BB còn có cả ngàn Quân Nhân và thường dân bị thương nặng chờ tản thương, nằm chật cả một dãy phố trên đại lộ Hoàng Hôn. Những người còn lành mạnh thì rất mệt mỏi và gầy ốm vì phải chiến đấu hết ngày này sang ngày khác, không thì giờ nghỉ ngơi, thiếu ngủ, thiếu ăn, tinh thần lúc nào cũng bị căng thẳng, sinh mạng không biết chết lúc nào. Lại nữa, mùi hôi thối từ những xác chết rất khó thở. Ruồi lằn sinh sản nhanh kinh khủng. Nước không đủ uống, lấy đâu mà tắm giặt, dơ bẩn, khó chịu, nhưng họ cũng phải ráng chịu. Phấn đấu sống để mà chiến đấu, để bảo vệ Quê Hương và Dân Tộc không lọt vao tay Cộng Sàn.

Còn về tình hình dân sự của Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long xin trích “Nhật Ký An Lộc” của Bác Sĩ Nguyễn Văn Qúi trong Chương “Địa Nguc Trần Gian” từ trang 199 đến 218.

2.- ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Tôi đã cắt mấy cẳng chân nát bấy. Xuơng vỡ ra nhiều mảnh vụn. Thịt da tơi tả trông như miếng giẻ rách, bầy nhầy lẫn lộn đất cát và mấy sợi gân trắng hếu. Tôi thấy không tài nào giữ được những cẳng chân ấy. Chiếc cưa dây Gigli tôi dùng đi dùng lại nhiều lần, giờ đây không chịu nổi nữa. Tôi kéo cưa được mấy cái là đứt tung ra, văng cả máu lên mặt. Trong tủ y cụ tôi chỉ còn có hai sợi chót. Sau khi thay, tôi chỉ còn một sợi độc nhất để dành. Sợi dây cưa Gigli rất dễ sử dụng. Cưa mau lại đỡ mệt hơn cưa tay thường. Tôi phục người nào đó đã sáng chế ra sợi dây cưa này. Tiện lợi vô cùng, vì nó chỉ là những sợi dây thép gồ ghề soắn lại với nhau nên luồn lách chỗ nào cũng được.

Trong tình trạng hiện tại, tôi quí sợi dây cưa này lắm, nó giúp tôi làm việc mau lẹ còn dành thì giờ mổ nhiều người khác. Thiếu nó thì những trường hợp thiết đoạn tứ chi tôi đành bó tay. Tôi cố gắng làm việc cho thật nhanh để thương binh khỏi phải chờ đợi và nhất là tránh phơi mình lâu ở chỗ không an toàn.

Mọi nghi thức trong phòng mổ đều được giản dị hoá đến mức tối thiểu. Chúng tôi chỉ cần một đôi găng tay. Mọi người trong toán mổ đều mặc áo giáp, đầu đội nón sắt để thay thế áo choàng mổ. Có như vậy chúng tôi mới yên lòng làm việc vì bên ngoài Việt Cộng vẫn pháo tới đều đều.

Máy phát điện đã bị pháo kích hư từ đêm hôm qua. Tôi phải mở rộng cửa sổ để có đủ ánh sáng làm việc. Chiếc bàn mổ phải luôn luôn xoay ngang, xoay dọc, lộn đẩu lộn đuôi tùy thuộc nơi mổ là ngực, bụng, đầu hay chân tay để có đủ ánh sáng mặt trời rọi vào chỗ mổ. Phòng hấp ngưng hoạt động vì không còn điện nữa. Các dụng cụ giải phẫu đều được khử trùng bằng cách đốt bằng rượu cồn hay ngâm rửa trong nước sà bông gọi là surgical soap.

Mặc áo giáp mổ vừa nặng vừa nóng. Trong phòng mổ kín mít, không máy lạnh, chỉ có một cái cửa sổ thông hơi nên đứng một lúc mà mồ hôi vã ra như tắm. Tôi bị mất nước nhiều quá thành ra mau mệt. Nước bây giờ quý hơn vàng, khó kiếm ra. Phòng mổ bây giờ không còn một giọt nước. Những khăn mổ đã dùng rồi, dính máu không có nước giặt được chị Huyền gom lại vứt thành đống sau phòng trực y tá. Ngay đến nuớc rửa vết thương còn không có lấy nước đâu ra giặt đồ.
Ngay những ngày đầu của cuộc chiến, tôi đã tiên liệu tình trạng này. Nhưng tôi thực không ngờ trận đánh kéo dài mãi không dứt và hình như hiện giờ mới chỉ là khởi đầu. Tuần trước tôi đã ra lệnh cho Thượng Sĩ Lý chỉ huy các nhân viên phòng mổ thu gom tất cả các chai nuơc biển đã dùng rồi, đổ đầy nươc vào, đem đi hấp để dự trữ hàng giẫy dài mấy trăm chai dọc theo tường phòng mổ.

Mặc dù chúng tôi dùng rất dè sẻn, chỉ để rửa các vết thương, số nước đó cũng chỉ được một tuần sau là hết. Cũng may tôi xuống dưới kho lớn đã đổ nát tìm được 6 gallon phisohex và hai thùng hydrogen peroxide. Không có nước pha, tôi đành rửa các vết thương bằng phisohex nguyên chất.

Phòng mổ bây giờ thật xơ xác hoang tàn. nền nhà dơ bẩn vì không có nước lau đã lâu. Dưới chân bàn mổ từng vũng màu đông đen xì hôi hám. Không khí ngột ngạt khó thở, không thể nào tiếp tục làm việc được nữa. Bệnh viện đã bị cô lập. Muốn liên lạc với các giới chức có thẩm quyền để xin trợ giúp chỉ còn có một cách đích thân đi bộ tới tận các bộ chỉ huy. Nhưng trong tình thế này tôi không tin là họ có thể giúp được cho bệnh viện một chút gì. Tôi tự nghĩ, có sao làm vậy, đến đâu hay đến đó, hết sức mình thì thôi.

Khoảng 5 giờ chiều, Bác Sĩ Nam Hùng ở phòng cấp cứu xuống cho tôi hay có 5 người bị thương bụng cần mổ gấp, tôi nghe vậy mệt xỉu luôn.

Dù ở trong thời bình với đầy đủ phương tiện, tôi có làm suốt đêm đến sáng, chưa chắc một mình tôi có thể giải quyết xong số thương binh đó. Huống chi, trong tình trạng hiện nay, với một số nhân viên cố định, đã làm việc suốt ngày không nghỉ. Tôi nghĩ không tài nào làm hết nổi. Không biết trận chiến còn kéo dài đến bao giờ. Tôi phải giữ sức khỏe cho nhân viên và cho tôi để có thể tiếp tục làm việc trong những ngày sắp tới. Nếu phung phí sức khỏe làm việc trong một ngày để rồi sau đó kiệt sức nằm bẹp một chỗ thì thật là người bất trí.

Lại còn vấn đề cá nhân nữa. Không ai lo cơm nước cho chúng tôi. Chúng tôi phải tự túc lấy. Sau vài ca mổ trong giờ xả hơi tôi tạt qua phòng nhắp vội một hai nắp bi đông nước cho đỡ khát, ăn vội mấy thìa cơm sấy với thịt hộp cho qua cơn đói. Các nhân viên phòng mổ khác chắc cũng được bạn bè giúp đỡ nên họ cũng chưa đến nỗi kiệt sức lắm.

Tuy nhiên trong tình trạng hiện tại, không điện nước, không đèn đuốc, thì dù có tinh thần cao cách mấy cũng không thể nào làm được. Lại thêm Việt Cộng vẫn tiếp tục pháo kích suốt ngày. Đạn pháo rơi bên trường trung học trước bệnh viện,bên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5, bên Ty Công Chánh sau bệnh viện rồi rơi vào ngay cả bệnh viện khiến cho chúng tôi đứng mổ không yên. Mọi người đều cố làm thật nhanh để còn đi tìm chỗ núp.

Những vội vã trong lòng không biểu lộ ra nét mặt. Ai nấy đều có cái vẻ ngoài điềm tĩnh để làm việc. Có thể nói sợ quá hoá lỳ. Vị thực ra đâu còn cách nào khác. Tuy nhiên mỗi lần nghe tiếng rít của đạn bay qua đầu hay tiếng hú của hoả tiễn thì những dấu hiệu kinh sợ mới thấy hiện ra trong ánh mắt mệt mỏi của mọi người. Riêng tôi, mỗi lần như vậy thì cảm giác sợ hãi làm co thắt các bắp thịt đến buốt nhói ở tim. Khi nghe thấy tiếng đạn nổ rồi, thấy mình không hề hấn gì mới yên lòng làm việc tiếp.

Càng ngày Việt Cộng càng pháo nhiều, tinh thần mọi người ở đây thật căng thẳng. Sống tính từng giờ, chết không biết lúc nào. Chúng tôi như những con chim đã bị tên, thấy cây cong là sợ : một tiếng xiết chân, một tiếng chép miệng, một tiếng thắng xe, tiếng xao động của mái tôn cũng làm cho chúng tôi giựt thót mình. Bao giờ tôi cũng có cảm tưởng là có một trái đạn treo trên đầu mình sẵn sàng nỗ bất cứ lúc nào.

Tôi nhận thấy không tài nào làm hết những vết thương bụng đó được.Tôi chọn xem người nào nhẹ nhất tôi làm trước. Những người nặng và những người mất máu nhiều không có hy vọng sống sót sau khi mổ, tôi chỉ cho truyền nước pha với trụ sinh rồi giao cho số mệnh.

Trong số những người bị thương bụng không mổ, chỉ có hai người sống sót, một cô gái và một người lính cao lớn tên Ba. Tiếc thay anh Ba sống được hai tuần thì một đêm kia, phòng hậu giải phẫu bị trúng một trái 61 ly. Người đàn bà nằm ngay chỗ trái đạn nổ cùng với đứa con không việc gì, trái lại anh Ba bị một mảnh nơi cẳng chân trái. Một tuần sau anh chết vì bị phong đòn gánh.

Trong ánh sáng lờ mờ của buổi chiều, trong không khí ngột ngạt oi bức tanh mùi máu của phòng mổ, tôi, Thiện, Xòm cố sức làm việc. Tôi cố khâu những vết thủng ruột non. Tôi thấy khó thở quá, mồ hôi chảy ròng ròng trong thân làm tôi thấy ngứa ngáy khó chịu. Thỉnh thoảng tôi lại phải nghiêng đầu dơ vai lên quẹt mồ hôi ở mặt từ trán chảy xuống.

Bây giờ không còn như mấy ngày trước nữa mà mong có người đứng bên lau mồ hôi cho mình. Trong hoàn cảnh khó khăn tôi đã hình thành một triết lý sinh tồn là cứ hết sức chú ý vào công việc mình làm, không cần để ý tới thời gian và những phiền toái chung quanh. Bởi vậy cuộc mổ chiều hôm đó tuy cực nhọc khó khăn rốt cuộc rồi cũng xong.

Tôi mệt lả người. Trong lúc Thiện, Xòm đẩy bệnh nhân ra phòng hậu giải phẫu, tôi bước ra ngoài cho dễ chịu một chút. Tôi không dám hít mạnh vì không khí bệnh viện hiện giờ chẳng trong lành, thơm tho gì. Cho tới nay gần 300 xác người nằm sấp lớp dưới nhà xe và sân sau của bệnh viện. Những xác chết đó có từ ngày đầu của cuộc chiến, đến nay gần mười ngày mà chưa được đem đi chôn. Buổi chiều mùa hạ nóng bức cùng với mùi tử khí của những xác người đã bắt đầu trương phình làm cho không khí đặc quánh, thật khó thở.

Bệnh viện có một nhà xác chứa được hai xác. Khi tôi tới làm việc ở tỉnh này được chừng ba tháng, thì dự án nới rộng nhà xác của tỉnh đã được thông qua và bắt đầu. Một ông thượng sĩ an ninh của tỉnh thì thầm với tôi :

– Bác sĩ đừng chê tôi dị đoan, nới rộng nhà xác là điều tối ky, vì chắc chắn sẽ có nhiều người chết lắm. Để rồi bác sĩ coi tôi nói có đúng không. Trước kia làm ở tinh Chương Thiện cũng vậy. Chỉ vài tháng sau khi nới rộng nhà xác là vô số người chết tới.

Lúc đó tôi gật đầu cho ông ta vừa lòng, nhưng trong bụng bán tín bán nghi. Nay thì thấy ông thượng sĩ già này có lý.

Thoạt đầu những người tử nạn đều được tẩm liệm vô hòm đàng hoàng, có cả quốc kỳ phủ quan tài cùng hương đèn đốt cháy suốt ngày đêm. Trung đội chung sự không đem đi chôn được vì pháo kích và khu nghĩa địa không được an ninh vì ở xa, ngoài vùng kiểm soát của quân mình, nên xác chết cứ để lại tại bệnh viện.

Khuya, sau khi mổ xong, đi xuống phòng ngủ, tôi không dám nhìn ra phía nhà quàn với hàng quan tài có những ánh nến leo lét cháy. Cứ trông thấy là tôi lạnh người dựng tóc gáy rảo bước cho mau.

Dần dần người chết quá nhiều, bất cứ nơi nào có xác chết là họ thu về đem thảy vào nhà xác bệnh viện. Mới đầu giới hạn ở nhà quàn, sau lan ra nhà xe, tới sân sau, rồi tới ngang hông văn phòng Ty Y Tế ngay trước trại ngoại khoa. Có xác quấn poncho, có phiếu chứng tử đính kèm, nhiều xác để trần mặc áo giáp, xác nằm xấp, nằm nghiêng, co chân co tay, miệng há hốc, mắt trợn trừng. Có xác nằm bình thản như người ngủ. Có xác trương phình, bụng căng cứng, bóng như bụng ễnh ương, chảy nước vàng, rữa nát vì để quá lâu, phơi nắng suốt ngày đã biến màu thành đen sạm như chì. Xác của người lớn, của trẻ con, của quan, của lính, của dân nằm lẫn lộn, xông lên mùi hôi thối suốt nửa tháng trời. Ruồi nhặng bu đầy trên mặt mũi, trên những vùng nước rỉ ra từ những thân thể sắp rữa nát.

Để ngăn ngừa ruồi muỗi sinh sản, có người đem rắc bột DDT lên những xác chết. Hành động này về phương diện vệ sinh, trên lý thuyết thì rất đúng. Nhưng đứng ở một nơi nào khác kia, ở một thời điểm nào kia, chứ thực tình tôi vẫn phân vân tự hỏi tại đây nó có tốt không ? Trong nhất thời, tôi cho là tai hại quá.

Ruồi nhặng bị xua đuổi khỏi chỗ ở của nó liền quay vào tấn công bệnh viện. Khắp chỗ nào cũng có ruồi nhặng. Chúng lì lợm đậu lên đầu lên mặt tôi, lên mặt những thuơng binh mệt mỏi nằm ngủ quên. Tôi đưa tay vuốt mặt ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết kinh tởm đến lợm giọng. Tệ hơn nữa hiện giờ chẳng kiếm đâu được nước mà tắm rửa. Tôi lấy một cục bông gòn thấm alcool lau qua cho đỡ bẩn. Mùi hăng nồng của alcool quả thực đã làm tôi thấy sạch sẽ hơn, dễ chịu hơn được một chút.

Lại nữa, mùi DDT trộn với mùi của xác chết xình thối hợp thành một mùi khủng khiếp không tài nào ngửi được. có những xác ruồi bu đen suốt từ đầu đến chân, tôi trông thấy mà nôn nao trong ruột muốn ói.

Mấy ngày sau, anh Châu kiếm đâu được ít thịt heo đem kho tầu mang đến cho tôi nhưng tôi không thể ăn được. Cứ đưa miếng thịt lên miệng lại nghĩ tới đống thịt rữa nát chỉ cách mình không xa là mấy, đành phải bỏ xuống. Ấn tượng đó cho đến cả tháng sau, lúc dọn sang bộ chỉ huy tiểu khu mới hết.

Sau khi không thể chịu được những xác chết đó nữa, chúng tôi trình sự việc lên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Một vị đại tá được chỉ thị lo việc này. Đó là Đại Tá Điềm nguyên Tỉnh Trưởng Long Khánh hồi tôi còn ở Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh đóng ngay tại tỉnh này. Không hiểu sao tôi lại gặp ông ở đây. Đích thân ông dẫn một tốp lính cùng 10 lao công đào binh để hốt xác đem lên xe cam nhông đưa đi chôn. Nhưng khi Đại Tá Điềm ra lệnh xong vừa quay về là lính, lao công đào binh cũng trốn luôn. Ai cũng ghê tởm không dám làm công việc khênh hàng trăm xác rữa nát hôi thối lên xe.

Ở sân trường học, ngay phía trước cửa bệnh viện, một chiếc xe ủi đất của Ty Công Chánh đang đào những hố thiệt lớn. Tiếng máy nổ khác thường làm mọi người chú ý. Ai cũng thắc mắc không hiểu họ đang làm gì. Mới đầu, tôi tưởng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cho làm thêm công sự chiến đấu, sau mới biết là đào hố chôn tập thể. Xe phải đào tới gần một ngày mới xong.

Buổi chiều chừng 5 giờ, một xe GMC dẫn 10 lao công đào binh cùng 5 người lính sang bệnh viện. Xe de đít quay vào đám xác. Lần này có lệnh của Đại Tá Điềm là ai trốn chạy sẽ bị bắn tại chỗ. Chính nhờ nghiêm lệnh này công việc đã được tiến hành tương đối chu đáo và có hiệu quả. Một trung sĩ to con, mặt sát khí đằng đằng cầm súng M.16 đứng chỉ huy.

Mấy người lao công đào binh đi kiếm bao nylon gạo sấy để làm bao tay hì hục khênh từng xác vất lên xe.

Nước vàng hôi thối từ những xác chết chảy ròng ròng. Bắt họ làm công việc này thật tội nghiệp. Nhưng nếu không bắt buộc thì làm sao giải quyết nổi gần 300 cái xác đó. Sau khi chất lên được gần một xe, nhìn lại thấy số xác người như không suy chuyển một chút nào, mấy anh lao công đào binh đã bắt đầu nản, xuống tinh thần. Phần vì mệt mỏi, phần vì tiếp cận ngay những cái xác đang rữa nát hôi thối đó, họ đều xin dừng tay nghỉ mệt và một anh đề nghị lấy xe ủi đất ủi tất cả các xác đó vào một đống sau bệnh viện rồi đổ xăng đem đốt. Nhưng giải pháp này không được chấp thuận. Vì mùi khét lẹt của gần 300 cái xác đó xông lên thì chắc không ai chịu nổi.

Bỗng một người lính la lên :

-Có thằng trốn.

Hai người lính liền đi lục soát tìm kiếm. Lợi dụng mọi người không chú ý, ba người nữa chạy vội ra tính leo rào trốn khỏi bệnh viện. Một cuộc rượt bắt diễn ra. Anh trung sĩ phải bắn mấy phát chỉ thiên mới bắt lại được ba người, còn một người trốn mất luôn. Bắt được anh cho mỗi người một báng súng vô ngực, buộc phải quay lại làm tiếp. Anh hăm dọa :

-Tụi bay mà bỏ chạy nữa tao bắn bỏ nghe.

Một người lao công đào binh mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm chiếc áo ka ki bạc màu, nhăn nhó qua hàng nước mắt :

– Hôi thối quá làm sao tụi em làm được.

Anh trung sĩ nạt lại:

– Bộ tao đứng canh tụi bay ở đây không ngửi thấy mùi sao.

Ráng làm cho xong rồi về.

-Khênh người sống còn đỡ, khênh người chết sình nặng quá muốn hụt hơi luôn. Trung sĩ cho tụi em nghỉ một lát để thở.

-Được, cho tụi bay nghỉ 5 phút.

Mấy lao công đào binh ngồi ngay xuống thềm xi măng văn phòng Ty Y Tế nghỉ xả hơi. Mặt người nào người nấy phờ phạc có lẽ phải hít thở mãi những mùi xú uế từ những tử thi để lâu ngày. Một người trông hãy còn trẻ, chừng 20 tuổi mặt mũi có vẻ thông minh ngồi dựa vào tường than thở.

– Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa bao giờ tao phải làm một việc cực khổ khốn nạn như thế này. Cực đéo chịu được, thà chết sướng hơn.

Tôi cho người đi kiếm mấy cặp găng tay đã dùng rồi đưa cho họ mang để họ làm việc dễ dàng hơn là dùng những bao nylon gạo sấy.

Hết năm phút xả hơi, họ lại được lệnh tiếp tục khênh xác lên xe. Đầy xe rồi tài xế liền lái ra hố chôn tập thể. Họ lại khênh xác vứt xuống hố. Tới 8 giờ tối mới xong được hai xe. Họ làm liên tục như thế trong hai ngày mới thanh toán hết số xác trong bệnh viện. Chiếc xe ủi đất phải đào thêm hố nữa dài theo sân của trường trung học mới đủ chỗ chôn. Ngoài ngã ba Xa Cam dọc theo vườn cao su, trung đội chung sự tiểu khu còn đào thêm một hố chôn tập thể khác khá lớn. Tôi nghe nói hố đó chứa chừng gần một ngàn xác.

Giờ đây mồ mả mọc lên như nấm rải rác khắp thành phố. Những tấm bia bằng gỗ pháo binh, bằng giấy carton được mấy người bạn đồng đội viết nguệch ngoạc tên họ người chết và cắm lên vội vã. Họ phải làm thật lẹ vì rất nguy hiểm khi phơi mình quá lâu trên mặt đất. Đạn pháo kích có thể rơi xuống bất cứ lúc nào.

Trước cửa nhà Tiểu Khu Phó, hai người đang đào hố chôn bạn, gần xong thì bị ngay một trái 105 ly. Chẳng một ai sống sót. Sẵn hố đã đào, người ta liền vùi tất cả chung vào một lỗ. Thành ra những ngưòi lính ấy đã tự tay đào lỗ chôn mình. Mấy anh lao công đào binh cũng bị tử nạn đang khi vứt xác xuống hố. Thi thể họ cũng được vùi chung với những xác mà họ mới vừa khênh xuống.

Người ta kể chuyện, vì có những vụ như vậy nên mỗi lần đào hố chôn, họ lại đào rộng ra một chút để nếu có bất hạnh xảy ra thì có sẵn hố tự chôn mình luôn. Thật là bi thảm nếu quả thực là như vậy. Không biết chuyện đó có thật hay không.

Từ khi giải quyết xong mấy trăm xác chết đó, bệnh viện thấy dễ thở hơn được một chút. Tuy nhiên hàng ngày, trung bình có từ 3 đến 5 xác do các nơi đem tới. Trung đội chung sự vì vậy cứ cách ngày lại phải tới bệnh viện gom xác lại đem đi chôn. Công việc cứ tiến hành đều đều như vậy, nên không còn sự ối đọng cả mấy trăm xác chết như trước nữa.

Ở đây không phải chỉ chết một lần, mà hai lần, có trường hợp tới ba lần. Pháo trúng mồ, thân xác bị cầy nát lên, được chôn lại, bị pháo trúng nữa, thịt xương rữa nát văng vãi tứ tung, hôi thối khủng khiếp. Đó là truờng hợp của một nữ y tá thuộc phòng y tế công cộng chẳng may bị tử thương, được bạn bè đem chôn tại bờ tường phía sau bệnh viện, đã bị chôn hai lần như vừa kể ở trên. Và đó cũng là trường hợp của bốn quân y tá mà tôi là người nói chuyện với họ lần cuối cùng dưới tàn cây trứng cá trườc cửa văn phòng Milphap.

Khi tôi từ phòng mổ đi xuống trại ngoại khoa, nửa đường gặp một nhóm quân y tá đang đứng nói chuyện với nhau. Trông thấy tôi, binh nhất Út tươi cười chào hỏi :

– Bác sĩ làm việc có mệt không ?

Tôi đứng lại nhập bọn với họ, trả lời :

– Mệt lắm, nhưng cũng phải cố gắng, còn nước còn tát. Thế các anh em có chỗ núp an toàn không, ăn uống cơm nước ra sao ?

– Thưa bác sĩ, nhờ có gạo sấy do thả dù tiếp tế nên cũng không bị đói. Chúng em cứ hai người chung một hố cá nhân đào dọc tường sau của trại nhi khoa, cho đến bây giờ thì may mắn chưa có ai bị hề hấn gì cả.

– Thế thì tốt lắm, nhưng không nên đứng khơi khơi giữa trời như thế này làm gì, nguy hiểm lắm..

Nói xong, tôi liền tiếp tục đi xuống trại ngoại khoa, mở khóa vào trong phòng ngả lưng định nằm vài phút để lấy lại sức. Vừa nằm chưa ấm chỗ tôi chợt nghe một tiếng nổ rất gần ngay trong bệnh viện, không to lắm, mảnh đạn, đất đá văng lên mái nhà nghe rào rào. Tôi đoán là đạn súng cối 61 ly. Vì đã có kinh nghiệm và đã quá quen với pháo kích rồi nên nghe tiếng nổ là tôi có thể đoán trúng được là loại đạn gì. Tôi nghĩ thầm loại này thì nhằm nhò gì chỉ như gãi ghẻ mà thôi. Tôi chẳng thèm để ý, định bụng nằm trên giường như thường, chẳng cần phải chui xuống gầm giường như mọi khi nữa.

Đang suy nghĩ miên man, thì có tiếng gõ cửa gáp rút, rồi tiếng trung sĩ Lạng trưởng trại ngoại khoa nói vọng vào :

– Xin mời bác sĩ ra ngay cho. Có bốn y tá của mình bị thương nặng!

Tôi vội ngồi bật dậy, đi ra ngoài, khoá cửa lại cùng trung sĩ Lạng chạy ra phía đầu trại ngoại khoa, ra tới sân trước văn phòng Milphap tôi thấy một nhóm đông đang xúm xít săn sóc bốn người bị thương nằm dưới đất.

Tôi khám thật nhanh thấy ba người kia đã chết vì vết thương quá nặng ở đầu, bụng. Còn có binh nhất Út thấy có vẻ tỉnh táo nhưng mặt mày xanh mét vì mất máu, vì đau. Tôi ra lệnh cho y tá khênh Út vào văn phòng Milphap, đặt anh ta trên chiếc bàn, rồi bắt đầu khám lại kỹ càng hơn. Tôi thấy một vết thương do mảnh đạn xuyên vào phổi phải. Không có tiếng thở phế bào. Chắc máu ra nhiều trong phổi. Tim đập rất yếu. Chắc chắn bệnh nhân cần phải được thông phổi ngay. Nhưng những dụng cụ thông phổi nay đã hết. Nên tôi đành phải dùng valve Heimlitz là một hình thức thông phổi mà không cần bình nước vì valve chỉ cho phép đi một chiều tức là máu ra được nhưng không khí không vào được do hai lá cao su khi thở ra thì nó mở ra, khi hít vô thì nó tự động đóng lại theo sức ép của không khí.

Tôi biết vết thương này không đơn giản. Chắc chắn nó đã gây hư hại nhiều cho những cơ quan bên trong. Tôi chắc Út khó có thể qua khỏi được nếu không được di tản kịp thời. Nhưng với tình trạng hiện nay, tản thương là điều không thể có được. Tôi nghĩ đến nước này chỉ đành phó mặc cho trời mà thôi.

Sau khi truyền nước biển xong tôi dặn mấy người bạn Út canh chừng trong đêm nay. Ngày mai nếu may mắn có chuyến tản thương sẽ cho Út ưu tiên đi trước.

Tôi đi vòng qua đống rác lớn cuối trại nội khoa, ra phòng cấp cứu. Qua hành lang giữa trại, tôi thấy thương binh nhiều quá, nằm bừa ra cả lối đi. Tôi phải len chân lần từng bước. Ra tới cửa chính giữa, nơi được dùng làm phòng cấp cứu. Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Chừng 30 thương binh nằm đầy ra ở dưới đất. Một vài người có bang ca, còn phần đông nằm ngay trên sàn gạch dơ dáy, đầy bông băng vấy máu. Một bàn kê sát vách tường trên đó để đầy các thứ thuốc sát trùng, các thứ thuốc chích, cạnh đấy là những thùng băng đã được khui sẵn. Sáu y tá luôn tay làm việc băng bó. Bác sĩ Nam Hùng, bác sĩ Tích đã khám vết thương từng người rồi ra chỉ thị cho y tá, cái nào rửa sạch băng lại, cái nào cần giải phẫu thì chuyển xuống phòng mổ. Tôi đến gần bác sĩ Tích, anh nhìn lên lắc đầu thở ra. Tôi hiểu ý nói:

– Nhiều quá phải không anh Tích ? Bác sĩ Tích gật đầu mệt mỏi đáp :

– Tôi với anh Hùng làm từ sáng tới giờ mà vẫn không hết. Nghe nói họ sẽ còn mang tới nữa.

-Trời! Lấy chỗ đâu cho thương binh nằm. Ở đây đầy rồi. Dưới trại cũng hết chỗ chứa.

Bác sĩ Tích ngao ngán lắc đầu :

– Mấy thằng khiêng cáng viên dông hết rồi. Tụi nó mất tinh thần, tên nào tên ấy lờ quờ không muốn làm gì cả.

– Mình bận làm việc không hở tay đâu để ý được tụi nó. Giá có thêm người đứng ra chỉ huy, tụi nó sợ, làm việc, thì đâu có ối đọng khổ sở như thế này.

Tôi đi thăm một lượt, may mắn không có ai cần phải mỗ lớn cả. Phần đông đều bị thương ở tay chân. Có nhiều người bị gãy xương, được các bạn đồng đội băng bó giữ im tạm khúc xương bị gãy bằng những cành củi khô hoặc bất cứ vật gì mà họ kiếm được.

Một điều tôi lấy làm lạ là bị thương đau đớn như thế mà không có ai kêu la. Khi các y tá xức thuốc rửa những vết thương trầy trụa, họ chỉ suýt soa nhăn mặt cắn răng chịu đựng chứ không như những ngày thường.

Trong số những người bị thương, có mấy người dân vừa đàn bà vừa trẻ con. Một đứa trẻ cụt cả hai chân lên tới đầu gối, nằm gối đầu trên một chiếc hộp đựng băng, dơ đôi mắt lờ đờ nhìn tôi miệng mấy máy một cách yếu ớt :

– Nước, nước, cho con hớp nước.

Sắc mặt nó vì bị mất máu nên xanh mét, da môi khô, cánh tay trái bị băng gần hết. Một sợi giây vòng qua cổ treo cánh tay trước ngực thành một góc 90 độ.Tay kia cũng đuợc giữ im để truyền nước biển. Thân hình nó thành ra ngắn ngủn một cách thảm hại. Vệt nước mắt khô còn in trên má. Mắt nó ráo hoảnh, nó không còn nước mắt để mà khóc. Nó nhìn để mà nhìn, đôi mắt dường như vô cảm giác. Tôi nghĩ nó đã quá mệt, tê dại không còn biết đau đớn là gì nữa. Nó bây giờ chỉ còn là một sinh vật, sinh vật “vô tri”. Cạnh đấy một người đàn bà bị thương ở má phải tóc bê bết máu nằm gục đầu trên đống băng vấy máu. Vết thương của bà ta đã được băng bằng một băng cá nhân nhà binh khá lớn che gần hết khuôn mặt chỉ để hở một con mắt tím bầm, sưng vù, thỉnh thoảng cố nhướng lên mà không được. Bà ta nằm rên nho nhỏ.

Phía góc phòng, một người lính bị thương ở đầu, bị quấn băng kín mít, chốc chôc lại la lên :

– Trời ơi khát nước quá, ai cho tôi miếng nước.

Kêu xong anh ta lại nằm yên như không có gì xảy ra cả. Mọi người đều bận rộn, không ai lấy nước cho anh, vì thực ra cũng khó mà kiếm được nước trong lúc này. Tôi yên trí không lo anh bị chết khát, vì chai nước biển treo bên cạnh vẫn còn nhỏ đều đều từng giọt thẳng vào mạch máu.

Tôi nhìn những người y tá làm việc băng bó như máy. Không hiểu họ có nghĩ gì không. Suốt 20 năm chiến tranh, chết chóc bị thương xảy ra quá thường như cơm bữa, khiến người ta dường như không còn xúc động trước những cái chết của đồng loại. Tôi đã nhận ra được điều này ngay từ hồi tôi còn là một sinh viên y khoa thực tập tại khu ngoại khoa bệnh viện Chợ Rãy. Hôm ấy người ta khênh vào hai mẹ con bị thương. Tôi săn sóc khâu vá vết thương của người mẹ. Tôi hỏi :

– Vì sao chị bị thương vậy ? Người đàn bà đáp :

– Bị máy bay bắn lầm trong khi cả nhà tôi đang ăn cơm. Hiện giờ chồng tôi và đứa con út bị chết vẫn còn để nằm ở nhà.

Điều làm tôi kinh ngạc nhất là giọng nói thản nhiên, gần như vô cảm giác, không một chút xúc động, không một giọt nước mắt, dường như bà ta đang nói về cái chết của người chồng, người con nào đó không phải của bà ta. Tôi cứ tưởng bà ta phải gào thét lên, khóc nức nở hay tỏ ra đau đớn lắm khi nhắc tới cái chết của chồng con. Nhưng thực sự đã trái lại, và điều này làm tôi chợt hiểu là chiến tranh đã làm chai đá lòng người.

Tuy nhiên cũng còn may, chiến tranh chưa hủy diệt hết tất cả tình cảm của con người vì sau này, trong những lần hành quân đụng địch, tôi đã bắt gặp được những tiếng khóc thổn thức, những tiếng kêu thảng thốt của những binh sĩ khi nghe tin một người bạn đã gục ở tuyến đầu. Thành ra về một phương diện nào đó, đau khổ quá mức làm cho tê dại đi cũng là một phản ứng tốt để người ta có thể sống còn được.

Tôi tiến dần ra phía ngoài cửa. Nơi đây quả là một địa ngục trần gian. Người sống người chết nằm lẫn lộn với nhau. Một người lính nằm dựa vào chân cột hành lang mắt nhắm nghiền. Một bên má có một vết thương còn rỉ máu. Cánh tay trái băng kín treo trước ngực. Khắp người anh chỗ nào cũng đầy những vết thương nhỏ. Anh nằm gác chân lên cái xác mà anh tưởng là một người bạn, thỉnh thoảng anh đập chân thì thào :

– Lấy tao hớp nước mày.

Có lẽ anh ta đã mê loạn rồi chăng ? Gần đấy một người bị thương ở cẳng chân, nằm gối đầu lên đùi một người bị thương ở đầu dường như đang ngủ mê mệt. Tôi tới gần xem, người bị thương ở đầu đã chết từ bao giờ. Tôi bỗng nghe một tiếng gọi yếu ớt

– Bác sĩ !

Tôi quay đầu lại, đưa mắt tìm kiếm xem tiếng nói từ đâu. Một cánh tay gầy khô như khúc xương mệt mỏi vẫy tôi. Tôi nhận ngay ra Điểu Thoul, môt lính Địa Phương Quân người Thượng đang nằm sát chân tường gần cửa phòng bác sĩ Chí. Tôi tới gần cúi nhìn vào hố mắt sâu hoắm của anh ta. Điểu Thoul giờ chỉ còn là bộ xương. Hắn quá yếu đuối không còn nhúc nhích gì được. Điểu Thoul bị thương ở bụng thủng ruột già. Tôi đã mổ làm hậu môn nhân tạo cho anh ta. Mấy ngày trước tôi đã cho tản thương, khênh ra khênh vào mấy lượt nhưng rốt cuộc không đi được, rồi chắc bị bỏ nằm ở đó.

Tôi ngồi xuống bên anh ta, một mùi hôi thối xông lên. Chung quanh chỗ nằm chảy đầy be bét toàn là phân. Cái túi nylon đựng phân buộc ở hậu môn nhân tạo mấy ngày nay không được thay, phân đầy tràn ra ngoài, những con bọ nhỏ bò lổn ngổn trông thấy mà nổi gai ốc. Tôi nói :

– Để tôi gọi người thay túi nylon cho anh chịu không ?

Điểu Thoul không nói gì, hai giọt nước mắt chảy dài trên đôi má hóp. Thường ngày cũng vậy, Điểu Thoul ít khi nói lắm. Bị đau nhức hay khó chịu trong mình chỉ biết ứa nước mắt khóc mà thôi. Tôi hỏi :

– Đói không, tôi cho người chuyển xuống trại nhé ?

Điểu Thoul gật nhẹ đầu. Sau đó tôi nhờ anh Xòm, thượng sĩ Lý làm sạch vết thương rồi khênh hắn xuống trại hậu giải phẫu.

Trước cửa sổ phòng bác sĩ Chí, ba xác nằm bình thản ngay lối đi. Xa hơn nữa, trước cửa phòng nha khoa hai xác nằm sóng đôi được đậy bằng một tấm tôn cong queo thủng lỗ chỗ vì bị mảnh đạn chừa ra hai cặp chân tím ngắt sưng mọng nước. Những thây đó đã bắt đầu hôi, mùi tử khí làm cho mọi người ngột ngạt khó thở.

Tôi thấy cô Bông, điểu dưỡng trưởng của bệnh viện, đang loay hoay băng bó một cách khó khăn cho một người lính bị thương ở đùi. Cẳng chân bị ngắn lại bị vẹo về một bên. Tôi hấp tấp bước lại :

– Khoan hãy băng, người này bị gãy xương đùi, làm bậy bạ bị kích xúc dễ chết lắm. Cô chờ tôi một chút, tôi đi lấy nẹp Thomas, trong khi chờ đợi cô cho truyền một chai Ringer và chích một syrette Morphin cho bớt đau.

Nói xong tôi rảo bước về phòng mổ, ào vô kho lục được một chiếc nẹp mang ra. Tôi hỏi người lính :

– Anh thấy đã bớt đau chưa ?

Anh ta gật đầu nhè nhẹ. Tôi vẫy trung sĩ Trọng :

– Lại đây giúp tôi một tay. Anh bợ nhẹ chân này lên để cô Bông đặt nẹp vào.

Tôi nắm lấy cổ chân người lính, hơi kéo nhẹ nhàng vừa nâng lên cao. Người lính nhăn mặt kêu đau. Tôi vừa giữ chân vừa vỗ về anh.

– Chịu khó một chút sắp xong rồi.

Năm phút sau, chúng tôi băng bó và giữ im xong. Trên trán người lính còn lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Anh đã can đảm cắn răng chịu đau khiến chúng tôi làm việc được mau chóng dể dàng. Tôi thấy cô Bông có vẻ mệt. Bây giờ là 8 giờ tối. Tôi biết cô và Trọng đã làm việc không ngừng từ suốt sáng tới giờ. Đầu tóc cô bơ phờ. Chiếc áo bà ba bằng lụa xanh màu lá chuối non và chiếc quần đen đều vấy máu.

Chúng tôi làm việc dưới ánh sáng bập bùng của ngọn đèn biến chế làm bằng một chai thủy tinh đựng dầu lửa, nút chai được đục thủng một lỗ để bấc đèn chui qua. Ngọn lửa có nhiều khói khét lẹt. Tôi nói với hai người :

– Chắc hết bệnh rồi. Mình có thể đi nghỉ được.

Cô Bông đưa tay quẹt mấy giọt mồ hôi trên trán nói :

– Bác sĩ đi nghỉ trước đi. Tôi đi kiếm chút nước cho thằng bé nằm kia uống.

Tôi vội dặn cô :

– Coi chừng đấy, mấy người khác thấy được, họ nhao nhao lên đòi, cô không có nước đâu mà cho.

Cô Bông mỉm cười hiểu ý nói :

-Tôi biết mà, bác sĩ yên trí đi nghỉ đi.

3- SO SÁNH CƯỜNG ĐỘ VÀ Ý ĐỒ CỦA TỪNG ĐỢT TẤN CÔNG CỦA QUÂN CỘNG SẢN BẮC VIỆT

Đợt tấn công lần thứ nhất do Công Trường 5 và Công Trường Bình Long đóng vai nỗ lực chính, cường độ tấn công cũng rất là hung hãn, vì theo lệnh của Hà Nội phải chiếm cho được An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972 để ra mắt cái Chính Phủ Bù Nhìn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đó là thể diện của Bắc Bộ Phủ vì Đài Phát Thanh tại Hà Nội đã loan tin đi khi Công Trường 5 mới vừa chiếm được Lộc Ninh. Tại Lộc Ninh, lực lượng Việt Nam Cộng Hoà trú đóng có 1 Chiến Đoàn cộng thêm 1 Thiết Đoàn Chiến Xa M.41 + M.113 + 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng + 1 Pháo Đội của Chiến Đoàn 9 và một Khẩu Đội Pháo Binh của Chi Khu Lộc Ninh, mà vẫn không chống cự nổi đến 48 giờ. So với lực lượng tại An Lộc, (dựa theo bảng ước tính tình hình trận liệt của quân Cộng Sản Bắc Việt), thì lực lượng của Việt Nam Cộng Hoà chỉ có 5 Tiểu Đoàn (tính luôn cả 2 tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long) và Bộ Chỉ Huy Nhẹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, vả lại hoàn toàn không có chiến xa yểm trợ, còn yếu hơn Lộc Ninh, nên Hà Nội mới nghĩ rằng tấn chiếm An Lộc dễ như trở bàn tay !!! Nhưng khi giáp trận thì tại phía mặt Bắc, gặp ngay Trung Đoàn 8 Bộ Binh với 2,500 tay súng cừ khôi, lại được trang bị cả hai ngàn súng chống chiến xa M.72, và tại mặt phía Đông, đụng phải Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân với gần 1,500 tay súng, cũng được trang bị súng chống chiến xa, với tinh thần Quyết Chiến của các Chiến Sĩ Mũ Nâu, còn mặt phía Tây thì cả Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đang dàn trận chờ đón quân địch. Không phải chỉ có 5 Tiểu Đoàn mà cả 3 Trung Đoàn quân Chủ Lực Việt Nam Cộng Hoà và 2 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân. Vì lẽ đó, nên ngày 20 tháng 04 năm 1972 đã qua đi, mà Công Trường 5 và Công Trường Bình Long dù đã tận hết sức bình sinh, đem nướng gần hết các cán binh và chiến xa, mở liên tiếp 3 cuộc tấn công biển người có xe tăng trợ chiến, nhưng cũng vẫn không chiếm được An Lộc… Cuối cùng Bộ Chỉ Huy chiến dịch Nguyễn Huệ của Cộng quân, bị Hà Nội khiển trách, buộc phải thay thế Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt bằng Công Trường 7 và Công Trường 9 tiếp tục làm nỗ lực chính để tấn công từ hướng Tây và Tây Nam.

Đợt tấn công lần thứ tư do Công Trường 9 và Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, đóng vai nỗ lực chính, cường độ tấn công còn ác liệt hơn lần thứ nhất. Quyết chiếm An Lộc để gỡ thể diện cho Hà Nội, đã lỡ loan tin di cùng cả thế giới … Lần thứ tư cũng không xong, rồi đến ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh cố lấn chiếm An Lộc để mừng ngày sinh nhật của Bác, cho âm hồn Bác được vui vẻ dưới âm ty, nhưng cũng không xong, chỉ vì, khi vỏ quýt dầy thì có móng tay nhọn (đụng phải quân Dù và Biệt Cách Dù).

Thật sự, trong đợt tấn công ngày 13 tháng 04 năm 1972 của Công Trường.5 và Công Trường Bình Long Cộng Sản Bắc Việt từ mặt phía Bắc và phía Đông, nếu được thay thế bằng Công Trường 9 và Công Trường 7, tấn công vào mặt phía Tây do Trung Đoàn 7 (-) Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà trấn thủ, và phía Tây Nam do lực lượng Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long phòng ngự, thì quân Cộng Sản Bắc Việt đã đánh xuyên thủng được hệ thống phòng thủ của lực lượng Việt Nam Cộng Hoà từ ngay cuộc khai pháo đầu tiên rồi.

Khi Công Trường 9 được thay thế làm nỗ lực chính để tấn công từ mặt phía Tây và Tây Bắc và Công Trường 7 tấn kích mặt phía Nam An Lộc, thì cũng vừa kịp lúc, Lực Lượng Dù đã được tăng cường cho An Lộc trấn đóng phía Nam, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được tăng cường thêm cho Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại mặt trận phía Bắc.

Cả 3 khắc tinh của Quân Cộng Sản Bắc Việt là ; B.52, Lực Lượng Nhảy Dù và Lực Lượng Biệt Cách Dù đều xuất hiện đủ trên chiến trường An Lộc. Cho nên dù rằng cả 2 Công Trường 9 và 7 Quân Cộng Sản Bắc Việt đã cố dốc toàn lực mở liên tục 2 cuộc tấn công, An Lộc vẫn còn ngạo nghễ đứng vững. Hà Nội phải đành muối mặt với cả thế giới, cặp bài trùng đạo diễn Kissinger và Lê Đức Thọ lại phải một phen đứng tìm, vì Biệt Cách Dù (giả), nhảy bọc phía sau lưng Cục R, và riêng ngày sinh nhật Bác Hồ thật buồn tẻ, toàn là mùi xác thịt của con cháu SINH BẮC TỬ NAM mà thôi.

ĐOÀN 28 ĐẶC CÔNG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ PHỐI HỢP VỚI LỮ ĐOÀN ĐẶC CÔNG 429 MIỀN, MỞ MŨI DÙI XUYÊN PHÁ (OVERPASS) AN LỘC VÀO CÁC CỨ ĐIỂM LAI KHÊ (BẢN DOANH TIỀN PHƯƠNG CỦA QUÂN ĐOÀN 3/QUÂN KHU III), QUẬN LỴ TRỊ TÂM, QUẬN LỴ LÁI THIÊU THUỘC TỈNH BÌNH DƯƠNG,
VÀ SAU CÙNG TẠI XÃ TÂN PHÚ TRUNG, NẰM TRÊN QUỐC LỘ 1 THUỘC TỈNH GIA ĐỊNH CÁCH THỦ ĐÔ SÀI GÒN KHOẢNG 10 CÂY SỐ VỀ PHÍA BẮC. (Xem bản đồ 13)

Ngoài bốn Công Trường (Sư Đoàn) quân chủ lực của quân đội Cộng Sản Bắc Việt còn có các đơn vị đặc công (quy tụ thành tiểu đoàn hay lữ đoàn), có nhiệm vụ xâm nhập và đánh phá những vùng hay căn cứ ở sâu trong hậu phương của Việt Nam Cộng Hoà, mà địch gọi là tuyến vùng trung, để gây xáo động, và dọn đường trước cho quân chủ lực tiến công nối tiếp.

Khi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Việt Nam Cộng Hoà vừa rời khỏi Lai Khê vào ngày 07 tháng 04 năm 1972, một đơn vị của lữ đoàn đặc công Cộng Sản Bắc Việt đã thành công trong việc phá nổ kho đạn tại hậu cứ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà sau đó ít ngày. Kế tiếp, đơn vị đặc công di chuyển ngang qua Quận Lỵ Trị Tâm để đánh phá, nơi đây trước kia là bản doanh của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà. đã được tăng cường cho mặt trận An Lộc từ ngày 12 tháng 04 năm 1972, chỉ được thay thế bằng một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân. Sau đó được Chiến Đoàn 43 Sư Đoàn 18 đến tiếp ứng và giải tỏa . Đặc công Cộng quân còn bỏ vòi vào tới phía Nam Quận Lỵ Lái Thiêu thuộc Tỉnh Bình Dương (khu vườn cây ăn trái măng cụt, soài riêng), liền bị lực lượng diện địa của Tiểu Bình Dương tiêu diệt .

Lần cố gắng sau cùng, vào khoảng trung tuần tháng 11 năm 1972 (giai đoạn 2 của chiến dịch Nguyễn Huệ) liên đoàn đặc công Miền gom tàn quân còn lại không hơn 1 tiểu đoàn, được tăng cường thêm tiểu đoàn đặc công K8 của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, bất thần xâm nhập vào xã Tân Phú Trung, thuộc tỉnh Gia Định cách Thủ Đô Sài Gòn khoảng 10 cây số về hướng Bắc, dọc theo Quốc Lộ 1 từ Tây Ninh về Sài Gòn, đào hầm hố chiếm cứ bám trụ tại đây, làm tắc nghẽn lưu thông Quốc Lộ 1. Địa Phương Quân của Tiểu Khu Gia Định không bứng chúng đi nổi. Tướng Minh cho điều động Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù (sau khi rời An Lộc) trỡ về giải toả khu vực này. Chỉ trong 1 đêm, các chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã tiêu diệt nguyên cả liên đoàn đặc công Miền mang số 429 cùng các cán binh của Tiểu Đoàn đặc công K.8 còn lại. Và cũng từ ngày đó 15 tháng 11 năm 1972, Bộ Chỉ Huy chiến dịch Nguyên Huệ của quân Cộng Sản Bắc Việt được chấm dứt nhiệm vụ. Mưu đồ tấn chiếm An Lộc của quân Cộng Sản Bắc Việt để ra mắt cái chính phủ bù nhìn gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” và dùng nơi đó (An Lộc) làm bàn đạp tấn công luôn Thủ Đô Sài Gòn, kể như hoàn toàn thất bại .

Tàn quân của Công Trường Bình Long vẫn còn bám víu tại vùng Phi Trường Quản Lợi và Đồi Gió, các Công Trường 7 và 9 rút quân về vùng rừng rậm phía Nam, giáp ranh 2 Tỉnh Tây Ninh và Bình Long vây hảm căn cứ Tống Lê Chân, 15 cây số Tây Nam An Lộc, với mục đích là thu lượm những kiện hàng thả dù của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thả tiếp tế cho lực lượng trấn thủ (Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng) để chia nhau sống tạm qua ngày . Nghĩa là đã có dự tính ém quân tại chổ, để chờ bổ sung quân số, chờ đến tháng tư năm 1975, xua toàn lực xâm chiếm lãnh thổ MIỄN NAM của Việt Nam Cộng Hòa .( xem bản đồ số 13 )
4- NHỮNG ĐƠN VỊ THUỘC CÁC QUÂN BINH CHỦNG VIỆT MỸ CHUYÊN MÔN
ĐÃ GÓP CÔNG QUAN TRỌNG VÀ GÓP PHẦN XƯƠNG MÁU CHO SỰ CHIẾN THẮNG AN LỘC

A.- KHÔNG LỰC HOA KỲ

• Các pháo đài bay B.52 [/b] xuất phát từ đảo Guam (Hoa Kỳ) . (Xem bản đồ 14)

• Các phản lực cơ Phantom, F.14[/b] cất cánh từ hai Hàng Không Mẫu Hạm USS Constellation và USS Saratoga đậu ngoài khơi biển Thái Bình Dương.

o Không Đoàn 1 Xung Kích AC.130 Tiểu Đoàn 229 Trực Thăng Xung Kích (Cobra)

o Tiểu Đoàn 362 Trực Thăng Chinook o Lữ Đoàn 7 Kỵ Binh Không Vận

o Lữ Đoàn 1 Không Vận

o Và còn vài đơn vị Không Quân khác mà chúng tôi chưa có dịp tham khảo.

B.- KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

• Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà bản doanh tại Biên Hoà. Đặc biệt là Không Đoàn 43 Trực Thăng của Sư Đoàn 3 Không Quân có trách vụ đổ quân và tản thương & các gunship yểm trợ, dưới quyền điểu khiển của Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức đại diện Sư Đoàn 3 Không Quân đặc trách về trực thăng + Không Đoàn Khu Trục và Phản Lực do Đại Tá Nguyễn Văn Tường, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 3 Không Quân kiêm Không Đoàn Trưởng Không Đoàn Khu Trục và Phản Lực chỉ huy, Không Đoàn Chinook 237 tiếp tế .

• Sư Đoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà bản doanh tại Tân Sơn Nhất Sài Gòn, đảm nhận phần hành thả quân biệt kích (giả), Phi Đoàn Tinh Long 821 yểm trợ hỏa lực, và các Phi Đoàn vận tãi C.119 & C.123 thả dù tiếp tế cho mặt trận An Lộc.

• Sư Đoàn 4 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà bản doanh tại phi trường Trà Nóc (Cần Thơ). Chuyễn vận Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Đoàn 4 & Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Quân Đoàn 4 từ Miến Tây lên Lai Khê.

C.- CÁC ĐƠN VỊ THIẾT GIÁP

• Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh Việt Nam Cộng Hoà Quân Khu III đặc biệt những đơn vị đã tham chiến trận Lộc Ninh, trận nhổ chốt Tầu Ô và các đơn vị tăng phái cho Chiến Đoàn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh trong việc khai thông Quồc Lộ. 13 và làm trừ bị cho lực lượng xung kích Sư Đoàn 18 trong việc bình định lãnh thổ Quân Khu III

• Các Thiết Đoàn Thiết Vận Xa của Quân Đoàn 4, đặc biệt là Thiết Đoàn 15 của Trung Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Quân Đoàn 4, và Thiết Đoàn M.113 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Đoàn .

D.- PHÁO BINH

• Các Tiểu Đoàn Pháo Binh 52 & 53 kể cả các Pháo Binh Lãnh Thổ của Tiểu Khu Bình Long và các Chi Khu Lộc Ninh, Chơn Thành và các căn cứ hoả lực Tống Lê Chân và Cần Lê.

• Đại Đội Pháo Binh Dù đặt tại căn cứ hoả lực Đồi Gió.

E.- CÔNG BINH CHIẾN ĐẤU

• Các Tiểu Đoàn Công Binh Chiến Đấu của Quân Đoàn 3 và Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Đoàn 4 Việt Nam Cộng Hoà

F.- TOÁN MẬT MÃ

• Các Toán Mật Mã của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Đoàn 3, và Toán Mật Mã Đặc Biệt của Phòng 6 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà biệt phái cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 tại Lai Khê.

G.- TIẾP TẾ THẢ DÙ CHO CHIẾN TRƯỜNG AN LỘC DO KHÔNG QUÂN VIỆT MỸ THỰC HIỆN

Từ nghìn xưa cho đến ngày nay, vấn đề Tiếp Vận cho một đoàn quân tấn công hay Tiếp Tế cho một cứ điểm phòng thủ luôn luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của chiến trường.

Đặc biệt, nói riêng về mặt trận An Lộc, việc tiếp tế bằng đường bộ thì hoàn toàn bị bế tắc ngay từ lúc đầu, khi khởi phát trận chiến. Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt đã hoàn toàn khống chế Quốc Lộ 13 từ An Lộc đến Quận Lỵ Chơn Thành bằng một lực lượng chuyên đóng chốt, một hệ thống pháo tầm xa và một hệ thống phòng không dày đặc với những vũ khí tối tân như đại liên 12 ly 7, cao xạ 37 ly, hoả tiễn tầm nhiệt cầm tay SA.7 được thiết trí trên mặt đất kể cả trên các chiến xa phòng không cơ động.

Việc này đã khiến cho phía Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ phải nghĩ đến việc tiếp tế bằng Trực Thăng Chinook ở giai đoạn tiên khởi, rồi đến các vận tải cơ C.123 và C.119 của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà, lần hồi đến các vận tải cơ hiện đại C.130 của Không Lực Hoa Kỳ. Biết bao nhiêu máu xương và mạng sống của các phi hành đoàn C.123, C.119 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và C.130 của Hoa Kỳ đã đổ ra trong lúc thi hành tiếp tế thả dù cho quân dân An Lộc trong suốt thời gian chiến trận, được kể từ sau ngày 07 tháng 04 năm 1972 đến ngày 08 tháng 06 năm 1972.

Ước tính có khoảng 15,000 quân lính và thường dân Việt Nam Cộng Hoà đang còn kẹt lại trong vòng lửa đạn giao tranh. Nhu cầu tiếp tế cho 15,000 quân dân Việt Nam Cộng Hoà, theo các chuyên viên tiếp vận Việt & Mỹ thì mỗi ngày cần phải có khoảng 200 tấn tiếp liệu, gồm đạn dược, thuốc men, lương khô, nước uống và xăng dầu cùng nhiều thứ linh tinh khác. Danh sách được liệt kê như sau :

• 140 tấn đạn dược đủ loại, nặng nhất là đạn pháo binh

• 36 tấn lương khô và gạo

• 20 tấn nước lọc để uống

• 4 tấn y dược đủ loại và một số linh tinh khác.

Không Quân Việt Nam Cộng Hoà được sự tận tình giúp sức của Không Quân Hoa Kỳ, đã cố gắng thực công tác nầy, xuyên qua nhiều thời kỳ và giai đoạn nóng bỏng của chiến trận :

A.- Thời kỳ sơ khởi : (khi Cộng quân chưa biết về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tiếp tế bằng cách nào, và hệ thống phòng không của chúng chưa hoàn tất) :

Không Đoàn Chinook 237 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phối hợp với Tiểu Đoàn Đoàn 362 Chinook của Không Lực Hoa Kỳ, đã thực hiện đổ được 42 chuyến đổ hàng tiếp liệu (mỗi chuyến tiếp tế được 3 tấn đồ tiếp liệu cho mỗi ngày).

Việc tiếp tế bằng những trực thăng Chinook trong vài ngày đầu tiên được thuận tiện và trôi chảy, tổng cộng tiếp tế cho quân trú phòng tất cả được 147 tấn hàng, mặc dù chưa đạt được chỉ tiêu mong muốn, nhưng thật ra cũng đủ dùng.

Không trình của các Chinook Việt Mỹ lấy từ Nam lên Bắc, và hạ cánh ngay các bãi trống trong thị trấn và trong vòng 2 cây số phía Nam An Lộc dọc theo Quốc Lộ 13.

Cho mãi đến ngày 12 tháng 04 năm 1972, khi đoàn Chinook vừa đáp xuống bãi đáp, thì pháo của Cộng quân liền khai hoả, kết quả 1 Chinook của Không Đoàn 237 bị trúng đạn pháo 130 ly, hoàn toàn hư hại cùng với toàn bộ phi hành đoàn bị tử trận, và vài chiếc khác bị trúng miểng pháo. Việc tiếp tế vẫn được duy trì cho đến hai ngày hôm sau, và cường độ pháo của Cộng quân mỗi lúc lại càng gia tăng vào đoàn Chinook. Mỗi khi nghe tiếng trực thăng là DELO địch liền chỉ điểm gọi pháo. Song song với pháo 130 ly, Cộng quân còn thiết trí cao xạ 12,7 và 37 ly khoảng 4 cây số về phía Nam An Lộc để chặn đoàn Chinook.

Như vậy là Cộng quân đã biết được hướng bay của đoàn Chinook, nên huy động cả pháo tập lẫn phòng không để ngăn chặn việc tiếp tế cho An Lộc. Thêm nhiều chiếc Chinook của Không Quân Việt Mỹ bị trúng miểng pháo và đạn phòng không của địch, vì lẽ đó mà việc tiếp tế bằng Chinook không thể tiếp tục được nữa.

B.- Thời kỳ địch quân thiết lập xong hàng rào hoả lực phòng không, kể cả tăng cường trung đoàn chiến xa cơ giới (271) lưu động phòng không

Không Lực Việt Nam Cộng Hoà quyết định ngưng ngay những phi vụ tiếp tế bằng Chinook, và thay thế bằng phương cách thả dù bởi các vận tải cơ C.123 và C.119 của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà phát xuất từ phi trường Tân Sơn Nhất (Sư Đoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà), bay vào lúc ban ngày và ở cao độ 5000 bộ .

Liên tiếp 3 ngày từ 13 đến 16 tháng 04 năm 1972, có tất cả 27 chiếc vận tải cơ của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà thả dù được 135 tấn, nhưng quân trú phòng chỉ nhận được có 34 tấn mà thôi, cộng với 6 bành dù khi vừa chạm đất thì phát nổ !!! Số còn lại đã bay lạc ra ngoài vùng địch kiểm soát.

Qua đến ngày 17 tháng 04 năm 1972, trong đoàn 6 chiếc C.123 và C.119 đi tiên phong thả dù, tất cả 6 chiếc đều bị trúng đạn phòng không của địch, một chiếc C.123 bị nổ tung trên bầu trời An Lộc, cả phi hành đoàn đều bị tử vong, trong đó có con chim đầu đàn của Phi Đoàn là Trung Tá Nguyễn Thế Thân.

Công tác thả dù bằng C.123 và C.119 buộc phải tạm ngừng, và Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà phải nghiên cứu lại độ cao của các chuyến bay thả dù sao cho tương đối được an toàn cho các phi hành đoàn và phi cơ, bằng cách bay ở cao độ từ 5,000 đến trên 7,000 bộ, (ở độ cao 5,000 bộ, chỉ tránh được cao xạ 12,7 ly mà thôi, còn phòng không 37 ly có thể lên tới 7,000 bộ), nhưng ngặt nỗi, bay ở cao độ 5000 bộ, mà số dù còn bay lạc ra ngoài mất đến hơn 60%, còn bay ở cao độ 7,000 bộ, số dù bay lạc ra ngoài vùng địch kiểm soát còn gia tăng hơn nhiều, có thế nói là mất khoảng 80%.

Về phía địch quân, mặc dù thu nhặt được nhiều bành dù đa số là đạn dược, lương khô, nhưng về đạn dược thì hầu hết không xử dụng được, còn lương khô, dù thu lượm được nhiều, nhưng quân số địch đã bị chết và bị thương khá nhiều, lấy ai mà ăn.

Trong khi Không Quân Việt Nam Cộng Hoà thả dù tiếp tế, các vận tải cơ thả dù ở trên cao độ 7,000, dù bay ra ngoài vùng Địch đến 80% .

Ngày 14 tháng 04 năm 1972, Bộ Tư Lệnh MACV của Hoa Kỳ mới quyết định cho không đoàn vận tải cơ C.130 có hệ thống thả dù rất tối tân từ toạ độ (điểm thả) đến việc ước tính chiều gió đều được ước tính bằng hệ thống điện tử (Computerized Aerial Drop System) tham gia vào việc tiếp tế.

Bắt đầu ngày 18 tháng 04, Không Đoàn C.130 của Không Lực Hoa Kỳ giúp Không Lực Việt Nam Cộng Hoà gánh vác việc tiếp tế cho toàn thể Quân Dân Tỉnh Bình Long.

Các cố vấn Mỹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Khu Bình Long cũng đảm trách việc liên lạc, kiểm điểm số lượng hàng, quân bạn nhận được, và chọn địa điểm thả dù.

Dùng sân banh của Tiểu Khu Bình Long, chỉ rộng có 219 thước vuông. Bước đầu các C.130 thả dù vào lúc ban đêm, phía dưới sân banh được đánh dấu bằng những thùng phuy đốt lửa. Sở dĩ chọn vào lúc trời tối là để phòng không của địch không nhìn thấy phi cơ đâu mà khai hoả.

Hai chiếc C.130 bay từ phía Đông Nam lên ở cao độ khoảng 2.000 bộ. Trước khi gần đến mục tiêu (sân đá banh), chiếc đi đầu liền bị trúng đạn phòng không của quân địch đặt trên các thiết giáp cơ động, bị chao đảo, buộc phải bay là xuống còn khoảng 600 bộ, và vội bấm nút thả hàng, vì trước đầu phi cơ bị phát hoả và bộ phận (cánh) bị phòng không của địch bắn hư hại, sau đó bay được ra khỏi vùng nguy hiểm. Còn chiếc thứ hai vội thay đổi hướng bay cố gắng đến gần tọa độ và bấm nút thả các bành hàng cũng bị trúng đạn, phát hoả một động cơ bên trái, đạn phòng không còn xuyên thủng phi cơ sát hại một sĩ quan cơ khí và một phi công phụ. Chiếc C.130 thứ nhì này được phi công chính lái ra khỏi vùng nguy hiểm, chỉ còn 2 động cơ còn hoạt động, và cả hai chiếc C.130 đi tiên phong trắc nghiệm, đều đáp được an toàn xuống phi trường Tân Sơn Nhất trong đêm. Trên hai chiếc C.130 có mang theo 26 tấn hàng tiếp liệu, phi hành đoàn có bấm nút thả (release), nhưng không biết các bành dù biến đi đâu hết, các cố vấn Mỹ ở bên dưới báo cáo là không nhận được gì hết ??? Có thể là dù bay ra ngoài chu vi của sân banh, dân chúng và các đơn vị quân đội gần đó thu nhặt được tự động chia nhau mà xài, mà các cố vấn Mỹ không hề hay biết !!! hoặc là đã lọt ra ngoài vùng địch kiểm soát.

Đêm hôm sau, rút kinh nghiệm của chuyến bay trước, 2 chiếc C.130 khác lại tiếp tục thả dù tiếp tế cho quân phòng thủ. Lần này được thành công mỹ mãn, đã thả được 26 tấn hàng lọt ngay vào sân banh, và các cố vấn Mỹ cùng giới chức tiếp liệu của các đơn vị tham chiến cùng phân phối chia nhau đồng đều cho các đơn vị.

Bước qua ngày 19 tháng 04, 2 chiếc C.130 lại tiếp tục thả dù, lần này một C.130 sau khi thả hết các bành dù liền bị trúng đạn phòng không của địch khiến động cơ phát hoả, và được phi công điểu khiển hạ cánh được ở vùng 2 cây số cạnh căn cứ Lai Khê, phi cơ bị hư hại nhưng phi hành đoàn vô sự.

Công cuộc thả dù ban đêm được thực hiện mỗi lần bằng 2 chiếc C.130 được nối tiếp thành công liên tục, cho mãi đến đêm 24 tháng 04 năm 1972, một đoàn 6 chiếc, và bước sang đêm 25 tháng 04, thêm một đoàn 11 chiếc C.130 đồng loạt ồ ạt đổ hàng tiếp liệu cho quân dân An Lộc, 2 lần tập trung này các phi cơ được lệnh tắt hết đèn và lấy Quốc Lộ.13 làm chuẩn ép về phía Tây khoảng 1 dặm (1 cây số 6).

Trong chuyến tiếp tế ngày 25 tháng 04, một trong 4 chiếc phi cơ dẫn đầu bị trúng đạn phòng không của địch mất thăng bằng và rơi tại vùng 2 cây số phía Nam tọa độ thả dù (sân banh). Cả phi hành đoàn 8 người đều tử nạn.

Những nhu yếu phẩm trong các đợt thả dù bằng C.130 đa phần là đạn cá nhân, lương khô và thuốc men, còn đạn pháo binh thì không cần nữa, (vì các khẩu pháo của quân bạn đã bị pháo địch bắn hư hại hết), còn nước uống thì quân dân bên dưới tạm dùng nước trong các ao đầm và hứng nước từ trời ban cho.

Từ sau chuyến thả dù đêm, 1 chiếc C.130 bị phòng không địch bắn hạ, sát hại hết phi hành đoàn, Bộ Tư Lệnh MACV Hoa Kỳ cho lệnh tạm ngưng những phi vụ bay đêm kế tiếp (còn khoảng thêm 10 chuyến thả hàng được đình chỉ).

Cho đến đêm 27 tháng 04, Không Lực Hoa Kỳ còn cố gắng thả thêm 2 lần nữa, và tất cả các vận tải cơ thả dù đều bị trúng đạn phòng không dầy đặc cùng các hướng bay vào mục tiêu An Lộc. Vì thế, việc tiếp tế thả dù ban đêm được đình chỉ hẳn.

Bộ Tư Lệnh MACV liền nghĩ ra kế khác, bằng cách nghiên cứu ra được một loại dù được thả từ cao độ (ngoài tầm sát hại của tất cả các súng phòng không của Cộng quân hiện có ). Dù sẽ tự động bung ra khi gần tới đất.

Ngày 03 tháng 05 năm 1972, phương cách này có tên gọi là HALO (High Attitude, Low Opening) được áp dụng lần đầu tiên và được 1 chiếc C.130 thực hiện vào lúc ban ngày và bay ở cao độ 8,000 bộ. Kết quả tương đối khả quan. Các dù được thu nhận khoảng 60%, đồ đạc rất ít bị hư hại.

Và, công việc tiếp tế thả dù ban ngày bằng các vận tải cơ tối tân C.130 của Không Lực Hoa Kỳ thả dù ở cao độ 8,000 được tiếp tục duy trì cho đến ngày 08 tháng 06 năm 1972 thì chấm dứt. (21)

Chú Thích : (21) The Siege at An Loc : How Air ReSupply Helped Save the City của Trung Tá Len Funk (The Army Historical Foundation).

Song song với công cuộc tiếp tế thả dù trong vùng An Lộc, tại phía Tây Nam An Lộc Không Lực Việt Nam Cộng Hoà cắt cử Phi Đoàn 218 của Sư Đoàn 5 Không Quân, dưới sự điều động của Trung Tá Hoàng Nuôi, đảm nhận trách nhiệm yểm trợ hoả lực cho một căn cứ hoả lực có tên là Tống Lê Chân do Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng trấn đóng. Căn cứ hoả lực Tống Lê Chân có 4 khẩu đại bác 105 ly và 2 khẩu 155 ly, trong đợt tấn công lần thứ tư vào An Lộc của Cộng quân, căn cứ nầy đã tích cực yểm trợ hoả lực, giúp đẩy lui cuộc tấn công của địch vào mặt phía Tây của An Lộc. Căn cứ hoả lực nầy bị công quân vây hảm đến trung tuần tháng 4 năm 1974, sau cùng cũng rút về được đến An Lộc nhập vào đoàn quân mũ nâu tiếp tục chiến đấu chống Cộng .

H.- BÁO CHÍ

• Kế tiếp là Đoàn Quân Báo Chí : xin mời Quý Vị, đọc bài viết tựa đề AN LỘC CHIẾN TRƯỜNG THÁCH ĐỐ của Phóng Viên Phan Nhật Nam :

– Sau đây, dưới hình thức một ký sự của một phái viên Vô Tuyến Việt Nam, đã đặt chân hơn một lần vào An Lộc, trong những ngày còn lửa đạn, người đọc sẽ được dẫn dắt vào thành phố đổ nát An Lộc. Công việc của một phóng viên là trung thực ghi nhận mọi sự kiện xảy ra trong đời sống thời sự. Trên một khía cạnh nào đó, người phóng viên như một chứng nhân dự phần vào những diễn biến luôn luôn làm cho thế giới biến đổi không ngừng. Với tư cách của một phái viên Vô Tuyến Việt Nam, tôi tới An Lộc ngày 13 tháng 06 năm 1972, khi thị trấn này bước vào ngày tử thủ thứ 68. Nhiệm vụ của tôi tương tự như các phái viên Vô Tuyến Việt Nam ở các mặt trận khác, là tường trình qua hệ thống liên lạc siêu tần số những sự thật đã và đang diễn ra tại các địa điểm mà chúng tôi có mặt. Tôi đặc trách mặt trận Bình Long và chiến trường An Lộc, thực sự như một thách đố đối với cá nhân tôi cũng như nhiều người khác đã từng tìm cách vào An Lộc. Chuyến đi của tôi khởi sự vào trung tuần tháng 04 năm 1972, và tôi đã chỉ có thể hoàn tất 2 tháng sau đó, tức ngày 13 tháng 06 năm 1972. Trong 2 tháng trời ròng rã này, mỗi lần khởi hành đều kéo theo một thất bại cho riêng tôi và cả các anh em khác đi cùng. Có những người bị thương, có những kỷ niệm chua sót, nhưng đau đớn hơn cả là cái chết của cố phóng viên điện ảnh Thiếu Úy Nguyễn Ngọc Bình. Một tuần lễ chờ đợi lên trực thăng rồi lại xuống trực thăng, ăn chực nằm chờ dưới những cơn lốc cát nóng bỏng ở phi trường Lai Khê, Bình Dương, ngày 29 tháng 04 năm 1972, chúng tôi khởi sự cuộc hành trình phiêu lưu vào An Lộc. Trong thời gian này An Lộc đang bước vào ngày tử thủ thứ 22, áp lực địch đang lúc mạnh và quân Cộng Sản Bắc Việt đã tạo được một lưới lửa phòng không suốt dọc phi trình dẫn vào Thành Phố Anh Hùng này. Trong ngày này chúng tôi không tới được mục tiêu, trực thăng chở chúng tôi bị bắn như mưa, cho khi tới đồn điền Xa Cam. Tại đây địch quân pháo kích hàng loạt vào bãi đáp, các phi công quyết định bay trở về. Trên cao độ hơn ngọn cây ở Xa Cam, chúng tôi nhìn thấy hàng trăm thương binh đang chờ đợi được di tản về Lai Khê, có những người nằm trên băng ca, có những người chạy tán loạn dưới những tiếng nổ chát chúa, cát bụi mịt mờ của đạn pháo kích. Họ chạy theo hướng trực thăng đến như muốn bấu víu vào những hy vọng cuối cùng của sự sống. Chúng tôi cảm thông tình cảnh này, vì chính mắt tôi trông thấy những thương binh ở Lai Khê, những người còn đi lại được, những vết thương đã có dòi, và những ký sinh trùng ghê tởm này đã rớt vương vãi khi anh em từ trên trực thăng tản thương bước xuống. Đợt trực thăng hôm đó, không có một thương binh nào về tới Lai Khê vì các phi công không thể hạ tàu giữa cơn mưa pháo kích của địch quân. Trên đường về, địch cũng bắn rát như khi chúng tôi tới, một trong các loạt đạn của địch đã khiến chiếc trực thăng chở chúng tôi không còn điều khiển được và phi công phải hạ khẩn cấp xuống một bãi trống chính giữa một khu rừng rậm ở phía Nam đồn điền Xa Cam. Trong những khoảng khắc kinh hoàng, một trực thăng gunship yểm trợ đã đáp xuống khu đất này để cứu sống tất cả chúng tôi gồm 4 nhân viên phi hành và 4 phóng viên chiến trường.

Ngày 01 tháng 05 năm 1972, trong một chuyến đi tương tự, điện ảnh viên Nguyễn Ngọc Bình đã giã từ ống kính khi trực thăng chở anh nổ tung vì đạn B.40 của Cộng quân. Vào khoảng thời gian này, dày đặc trong những khu rừng cao su, Cộng quân bố trí các ổ đại bác phòng không bắn bằng radar, các hoả tiễn địa không bắn tay SA.7 cũng như các ổ đại liên khạc đạn không ngừng. Bởi vậy, các phi công ta đã phải liều lĩnh bay sát trên đầu ngọn cây để vô hiệu hoá khả năng phòng không địch điều khiển bằng “mắt thần”, tuy nhiên khi bay thấp, phi cơ ta phải chấp nhận đạn súng nhỏ và ngay cả đạn chống chiến xa B.40 của địch, bắn từ những tên Cộng quân bị cột người trên các ngọn cây.

– Sau đây là lời tường thuật của một người đã có mặt tại vùng này :

Theo tôi biết thì Phòng 3 và Phòng 5 Bộ Tư Lệnh Quân Khu III trước 75 có những tấm hình này vì anh em trong Phòng 5 Sư Đoàn 5 Bộ Binh có chụp. Chẳng những lính xe tăng bị xiềng chân mà cả những tên đặc công bắn xẻ cũng bị xiềng chân trên các cành cây cao su vì theo lời khai thác từ các tên đặc công (đa số là người Miền Nam) đã bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bắt được thì nếu không bị xiềng chân, chẳng có bao nhiêu tên đặc công Việt Cộng dám ăn dằm nằm dề trên những nhánh cây cao su để theo dõi và bắn sẻ theo lệnh của bọn cán bộ Cộng Sản Bắc Việt, … và nhiều tấm hình tôi chụp tại An Lộc nhìn qua phải rợn người.

Sau chuyến đi thất bại ngày 29 tháng 04 năm 1972, chúng tôi vẫn trong tình trạng chờ đợi, và tiếp tục một vài lần phiêu lưu nữa không phải bằng trực thăng nhưng bằng con đường máu mệnh danh là con đường xui xẻo 13 (Quốc Lộ 13). Ngày lại ngày, đoạn đường Lai Khê Chơn Thành trở nên quen thuộc với chúng tôi, nhưng hết tuần lễ này đến tuần lễ khác, chúng tôi không có cơ hội để vào An Lộc bằng đường bộ. Địa điểm xa nhất mà chúng tôi đạt tới chỉ là Suối Tàu Ô, con suối tử thần, đã cầm chân đoàn quân khai thông Quốc Lộ hơn hai tháng trời và vẫn còn tiếp tục cho tới sau ngày tôi vào được An Lộc và trở ra trên đoạn đường ngắn ngủi này, chúng tôi lại gánh chịu những kỷ niệm đau thương mới, khi tôi theo chân đoàn chiến xa của Chi Đoàn 1/20 đi khai thông Quốc Lộ, Đức Tài, biệt danh của ông Đại Úy Chi Đoàn Trưởng 1/20 không phải xa lạ gì với các phóng viên chiến trường. Đức Tài từng là anh hùng thiết giáp trên chiến trường Cambodia. Ngày 24 xuất hiện tại Lai Khê, Đức Tài đã ôn lại kỷ niệm cũ với nhóm phóng viên chiến trường và chính anh đã đãi chúng tôi bữa hủ tíu sau cùng ở Câu Lạc Bộ Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Sáng 24, Đức Tài dẫn mấy chục con cua sắt đến Chơn Thành để từ đây anh tham gia mặt trận Bình Long. Đức Tài còn đưa hai ngón tay thành chữ V làm dấu hiệu chiến thắng khi leo lên chiếc M.113 để dắt đoàn cua sắt M.41 và M.113 tiến vào tử địa. Hai người trong nhóm chúng tôi là Lê Thiệp và Dương Phục định leo lên xe của Đức Tài để đi cùng, không hiểu sao lúc đó tôi lại cản và nói : Đi theo sau tiện hơn.

Đức Tài dẫn đoàn xe đi, chúng tôi dồn cục lên một chiếc xe Jeep theo sát chiếc M.41 sau cùng. Đoàn xe mới chạy chừng 5 phút, chúng tôi nghe những tiếng đạn pháo kích và tiếng súng liên thanh nổ rền. Mỹ Voi, điện ảnh viên Quân Đội, lao vội chiếc xe xuống lề đường la lớn : “Xuống hết, tụi bay. Đụng rồi”. Hai phút sau, khi chúng tôi chạy lên chỗ chiếc xe M.41 đang nhả đạn 76 ly vào bìa rừng thì người trưởng xa leo lên pháo tháp la thất thanh :” Đức Tài bị rồi, hoả tiễn 122 pháo trúng chiếc M.113 chỉ huy của Chi Đoàn Trưởng”.

Đoàn chiến xa bị chặn lại tại đây, và một phi tuần A1 tới thả bom hai bên bờ rừng. Chúng tôi trở về Trung Đoàn 32 để nhìn mặt Đức Tài lần cuối. Hai người lính khác cũng hy sinh với Đức Tài. Cái chết ở mặt trận này đến thật mau lẹ, chỉ mấy phút sau khi làm dấu hiệu chiến thắng hình V, Đức Tài đã vĩnh viễn ra đi trong ngơ ngác bi thảm của cả đoàn quân vừa mới khởi sự tham gia mặt trận Bình Long không đầy nửa tiếng đồng hồ.

AN LỘC ĐỊA SỬ GHI CHIẾN TÍCH

Sau bao nhiêu lần đi, bao nhiêu lần trắc trở, tôi vẫn định bụng là sẽ phải vào An Lộc để nhìn thấy tận mắt Thị Trấn Anh Hùng này, nhìn thấy tận mắt sự tàn phá khủng khiếp vô lý của chiến tranh. Để được thấy, chứ không phải nghe nói về những chịu đựng và những biểu tượng về tinh thần chiến đấu vô biên của tât cả những người đã giữ vững An Lộc, cho dù thành phố này không còn là một thành phố nữa. Ngày 13 tháng 06 năm 1972, toán phóng viên lại lên đường. Ngoài tôi còn có Đại Úy Nguyễn Văn Quí, Sĩ Quan Báo Chí Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Dương Phục, Đài Tiếng Nói Quân Đội, Anh Thuần của nhà báo Tiền Tuyến, Tam Phong Slao Quắn của Sư Đoàn 5, và Hebert thuộc hệ thống truyền thanh truyền hình Canada. Người phóng viên quốc tế này bị tử thương ngày 23 tháng 07 năm 1972 lúc theo dõi chiến trận Quảng Trị sau khi An Lộc được giải toả. Tất cả chúng tôi được ngồi chung trên một chiếc trực thăng UH trong đợt đổ quân của Tiểu Đoàn 2/31 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh tăng viện cho măt trận An Lộc.

Vào khoảng thời gian này, phòng không địch không còn mạnh mẽ như những chuyến đi trước của chúng tôi vào hai tháng 04 và 05. Các phi công ghi nhận là quân Cộng Sản Bắc Việt chỉ còn 1 ổ đại bác 57 ly ở phía Bắc Tân Khai và một số ít đại liên dọc theo các rừng cao su mà thôi. Đoàn trực thăng 5 chiếc lao xuống Xa Cam lúc 11 giờ sáng và khi vừa chạm đất, chúng tôi bắt đầu nghe những tiếng xé gió và những tiếng nổ chát chúa, địch lại bắt đầu pháo kích, theo như thói quen thường lệ, mổi khi nghe tiếng động cơ trực thăng vọng về. Đã có nhiều kinh nghiệm tại mặt trận này, tất cả chúng tôi, không ai bảo ai, chạy tuá vào 2 bên rừng cao su và lao mình xuống hầm hố gần nhất. Địch ngưng pháo sau chừng 15 trái đạn, đây là các ụ súng của địch đã bị bỏ hoang từ mấy ngày trước đó. Dứt tiếng pháo, chúng tôi chạy theo hai ven rừng cao su; phía trước là các toán quân vừa được trực thăng vận tới. Họ di hành theo đội hình hàng dọc, nhiệm vụ cùa họ là tới An Lộc và từ đó tăng cường các cánh quân tảo thanh địch chung quanh vòng đai tỉnh lỵ. Được chừng hơn 100 thước, Đại Úy Qúi bắt đầu kiểm điểm quân số trong toán chúng tôi. Thiếu mất ông phó nháy Slao Quắn và phóng viên Đài Tiếng Nói Quân Đội Dương Phục. Họ chạy qua phía khu rừng bên kia khi Cộng quân pháo kích bãi đáp. Một lát sau họ bắt kịp chúng tôi tại tấm bảng xi măng Plantation De Xacam. Dương Phục thở hổn hển, đất đỏ Bình Long nhuộm mồ hôi tạo cho gương mặt hắn một màu kỳ dị. Hắn cho biết trong lúc chạy pháo kích, cái túi đeo của hắn văng mất và sức ép của tiếng nổ lẫn cánh quạt trực thăng đã làm những đồ vật trong túi bay như bươm bướm. Dương Phục mất hết các vật dụng riêng của hắn ngoại trừ tìm lại được cái xác của cái máy cassette đã trở thành vô dụng. Đoạn đường từ Xa Cam vào An Lộc chỉ hơn cây số, nhưng tôi đã có cảm tưởng là đã vượt qua đoạn đường di hành dài mấy chục cây số.

Có lúc tôi định quẳng cái ba lô cho nhẹ và cũng để nhảy xuống hố tránh pháo dễ dàng. Tuy nhiên suy nghĩ tới mấy vật dụng cần thiết và mấy túi lương khô, tôi đã cố gắng đeo cái túi càng ngày càng nặng chĩu này để đi bắt tay Tướng Hưng. An Lộc đã vào trong tầm mắt thì vừa lúc chúng tôi nhận ra một thương binh (không biết của bạn hay địch) đang rên rỉ bên cạnh xác chiếc T.54 cháy nám đã bắt đầu rỉ sét. Máu nhuộm đỏ thân mình, người thương binh dơ cánh tay yếu ớt về phía chúng tôi rồi chỉ vào miệng anh, có lẽ anh đang trải qua cơn khát cháy cổ của người bị thương mất máu. Cùng lúc này, địch lại pháo mấy trái đạn, tiếng rít gió nghe lạnh mình, những tiếng nổ chát chúa, tiếng cành cây cao su gẫy rào rào, trái đạn đã đi vào trong bờ rừng. Có tiếng ai gọi lớn: “Chạy mau đi, thoát khỏi chỗ này”. Tất cả chúng tôi cắm đầu chạy như bay về phiá trước, nhiều xác T.54 rải rác, một chiếc xe be vàng chói đầy vết đạn pháo kích nằm vắt ngang qua con dốc. Đại Úy Qúi quay lại nói :”Toàn vết pháo mới, chạy mau đi”. Người ta gọi con dốc có cái xe be là khúc quanh tử thần, vì chỉ riêng tại nơi này hơn 200 thương binh và những thường dân đang di tản đã chết vì đạn pháo kích trên đường đón trực thăng ở bãi đáp. Hình ảnh người thương binh vẫy tay xin nước ám ảnh tôi suốt cuộc hành trình vào An Lộc và có lẽ cả quãng đời còn lại sau này, mấy toán quân đi trước và cả toán chúng tôi đã không giúp gì được cho anh ta, dù muốn dù không cũng là điều không nên không phải. Leo hết con dốc tử thần là bắt đầu vào An Lộc, một tấm bảng xanh lỗ chỗ vết đạn với hàng chữ chiều bắt buộc cho xe dân sự vào châu thành, đầu đường là một bót gác vách đá lố nhố binh sĩ, họ đang chờ giờ ra bãi đáp trực thăng, quần áo mọi người nhuộm một màu nâu đỏ đặc biệt, đó là mầu đất Bình Long.

Đồng hồ chỉ 11 giờ 20, thế là chúng tôi chạy trong 20 phút từ bãi đáp Xa Cam vào An Lộc. Càng vào sâu, cảnh điêu tàn càng hiện rõ, trên con đường chúng tôi đi không một thước vuông đất nào không ghi lại những vết tích của chiến tranh. Từ xa hướng về, không một ngôi nhà còn nguyên vẹn. Những mái nhà sụp đổ, thân tường nghiêng ngả lỗ chỗ vết miểng pháo, những cột đèn siêu vẹo, giây điện đứt tứ tung và điểm thể hiện duy nhất cho sự kiện An Lộc chiến đấu kiên trì là những cánh hoa dù tiếp tế phủ đầy mặt lộ. Sừng sững giữa khung cảnh hoang tàn, một bức tượng chiến sĩ tiến lên đập ngay vào tầm mắt những ai tiến vào An Lộc. Thật là kỳ lạ, bức tượng này đã đứng vững trong hơn 2 tháng trời An Lộc bị pháo kích tổng cộng trên 200,000 trái đạn. Tiểu Khu ở phía tay mặt con đường, Đại Uý Qúi trước đây đã từng vào An Lộc, ông nói :”Các anh cứ đi theo tôi coi chừng lạc”. Đi chừng hơn 100 thước, chúng tôi thấy một dinh thự 2 tầng đã sụp đổ phần trên, đó là toà hành chánh Bình Long, những hàng chữ bằng xi măng đúc không còn nguyên vẹn. Mùi xú uế nồng nặc đến lợm giọng. Một thứ mùi đặc biệt của thịt người và thú vật đã sình thối. Bộ Chỉ Huy của Tướng Hưng nằm phía Đông Bắc Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Những dẫy nhà mất mái, đổ tường, hầm của Tướng Hưng đặt tại căn cứ của Trại Đỗ Cao Trí bên dưới lòng đất dầy khoảng 3 thước. Chúng tôi bước vào một lối đi nhỏ hẹp, đó là đường dẫn xuống trung tâm hành quân của Tướng Tử Thủ Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Mặt Trận Bình Long. Căn hầm tù mù, một ngọn đèn duy nhất chừng 45 volt, nên chỉ mang lại một chút ánh sáng vàng vọt, Sau này chúng tôi được biết, Tướng Hưng đã chuẩn bị cho những ngày bị bao vây kéo dài, Ông có 3 máy điện riêng, nhưng nhất quyết chỉ sử dụng một máy. Công xuất của máy chỉ đủ dùng cho hệ thống siêu tần số và cho các máy liên lạc, còn thừa lại là ánh đèn nhỏ khô héo trong hầm chỉ huy. Tướng Hưng tự hạn chế mọi tiện nghi riêng để giành cho sự sống còn của Bình Long. Nếu không còn mạch điện cung cấp cho hệ thống liên lạc thì An Lộc sẽ bị thất thủ tức khắc. Ngoài căn hầm nhỏ dành riêng cho Ông và Cố Vấn Trưởng, nơi này chỉ được thắp sáng mỗi khi cần, Tướng Hưng chỉ sử dụng một máy phát điện đặt trên nóc hầm Bộ Chỉ Huy, 2 máy còn lại phải phòng hờ bị đạn pháo kích làm hư hại. Hơn nữa mức dự trữ nhiên liệu luôn luôn chỉ đủ cho thời gian 1 tuần lễ. Theo lời yêu cầu của Tướng Hưng, Quân Đoàn có cho thả dù các phuy xăng. Nhưng trong 10 thùng khi chạm đất đã nổ đến 9. Có những ngày Tướng Hưng phải ra lệnh đi mót xăng từ các xe cộ nằm hư rải rác trong thành phố. Nhiều người đã chết trong công tác bề ngoài xem rất tầm thường này, nhưng thực ra chính là sự hy sinh đầy ý nghĩa cho sự đứng vững của An Lộc trong hơn 3 tháng trời khói lửa.

I.- Ngoài ra, còn có Liên Đoàn 5 Quân Y , các đơn vị Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Vận, Quân Cảnh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, và Cảnh Sát .

5- BÌNH LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN AN LỘC

A.- YẾU TỐ ĐIỀU NGHIÊN

Điều nghiên là vấn đề căn bản của bất cứ trận đánh nào, dù nhỏ như đồn bót, căn cứ hoả lực, lớn như một tỉnh ly, một mặt trận, một chiến trường. Đâu là Điểm, đâu là Diện, lực lượng và khả năng tác chiến của địch và bạn, ưu thế của địch khuyết điểm của ta. Các cấp chỉ huy và tinh thần chiến đấu của binh sĩ của đối phương, địa thế, thời tiết, lòng dân, v.v… để khắc phục và khống chế chiến trận, giành phần thắng lợi cho binh đội của mình.

Như mặt trận An Lộc, diện là Tây Ninh, còn điểm là An Lộc. Tại Tây Ninh có Sư Đoàn 25 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà trấn đóng, Sư Đoàn 25 lúc bấy giờ, đã có nhiều trận chiến thắng với các đơn vị chính quy, quân Cộng Sản Bắc Việt, sĩ khí đang lên cao, nhất là có đơn vị Trinh Sát Hắc Báo rất là thiện chiến, với cả 3 Trung Đoàn Bộ Binh hùng mạnh và còn nguyên vẹn + Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, còn địa thế thì dọc theo Quốc Lộ 22 từ Crek (Cambodia về phía Nam, đến phía Bắc Tỉnh Lỵ Tây Ninh (Việt Nam Cộng Hoà), có rừng rậm ẩn khuất, nhưng về phía Nam qua khỏi tỉnh Tây Ninh về Sài Gòn, dọc theo Quốc Lộ 1 được khai hoang rộng rãi, dân cư đông đúc, đa số chống Cộng, hai bên đường không có rừng cây rậm rạp, để có thể tổ chức các cuộc phục kích hay đóng chốt cấp trung đoàn, để chận viện binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ phía Nam lên.

Tại An Lộc, thuộc vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ, đã bị gẫy hết Trung Đoàn 8 Bộ Binh, vì sau trận Snoul từ Miên rút về, đã bị Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt chận đánh, thiệt hại khá nặng (vào cuối tháng 05 năm 1971), đang được bổ sung và tái trang bị, 2/3 là tân binh. Chỉ còn lại Trung Đoàn 7 Bộ Binh đang đóng tại An Lộc và Trung Đoàn 9 Bộ Binh đang trấn thủ tại Lộc Ninh, tinh thần binh sĩ không cao, như vậy là hầu như bị kém khuyết hềt phân nửa, so với Sư Đoàn 25 Bộ Binh ở phía Tây Ninh. Còn địa thế thì theo Quốc Lộ 13 chạy dài từ ranh giới Việt Miên đến sát An Lộc toàn là rừng rậm, về phía Nam hết 8 phần 10 là rừng và cây cao su ngút ngàn, dân cư thưa thớt, nên rất thuận tiện cho việc tổ chức các ổ phục kích như: Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt tổ chức phục kích Thiết Đoàn 1 (-), 5 cây số Bắc Lộc Ninh, vào đêm 05 rạng 06 tháng 04 năm 1972. Điểm phục kích thứ hai tại ngã ba Cầu Cần Lê, Quốc Lộ 13 nối liền Liên Tỉnh Lộ 17, Bắc An Lộc 15 cây số, do 2 trung đoàn của Công Trường 9 Cộng và Công Trường Bình Long, tổ chức tuyến phục kích dài 3 cây số để ngăn chận và đánh bật Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, xuất phát từ căn cứ hoả lực Cần Lê, dự định lên tiếp cứu Lộc Ninh theo lệnh, vào ngày 06 tháng 04 năm 1972. Điểm thứ ba,tại phía Nam An Lộc, Công Trường 7 tổ chức điểm phục kích cấp sư đoàn, khoảng 4 cây số Nam An Lộc (chốt Xa Cam), dự định hốt hết các lực lượng bố phòng rã hàng ngũ chạy về Lai Khê, 2 trung đoàn khác, tổ chức các chốt kiền có sự điều chỉnh pháo binh tầm xa 130 ly ( vị trí đặt súng ở phía Tây ), nhất là chốt kiền tại Suối Tàu Ô (20 cây số Nam An Lộc), thêm 1 chốt phụ nữa,tại xã Bàu Bàng (52 cây số Nam An Lộc), là những nơi đã diễn ra nhiều trận đánh đẫm máu, giữa quân tiếp viện của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và quân chận viện của Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, suốt hơn 2 tháng dọc theo Quốc Lộ 13 từ Nam lên Bắc.

Ưu thế của địch (quân Cộng Sản Bắc Việt) : Có chiến xa T.54 và PT.76 và là lần đầu tiên xuất hiện tại chiến trường trong Nam (Quân Khu III Việt Nam Cộng Hoà), pháo binh tầm xa 30 cây số, các xe thiết giáp phòng không cơ động với súng 12 ly 7 và 37 ly, có những vũ khí tối tân như SA.7 (loại cầm tay) do Nga viện trợ, là loại khắc tinh của các loại trực thăng của Việt Nam Cộng Hoà và Đồng Minh Hoa Kỳ.

Yếm thế của địch : để mất thời cơ thuận lợi sau khi chiếm xong Lộc Ninh, lại không dùng khí thế đó xúc kích tấn công An Lộc mà trì hoãn đến 7 ngày sau (từ 07 tháng 04 đến 13 tháng 04) mới mở màn trận tấn công đầu tiên vào An Lộc, thêm vào đó khi tấn công thì lại tấn công chỉ nhằm vào môt hướng hay một mặt chứ không tấn công đồng loạt, còn các mũi tấn công thì giờ khắc lại không thống nhất, nên lực lượng trú phòng đủ thì giờ và điều kiện trám khuyết những yếu điểm nếu có, cũng như nhận biết trước được đâu là nỗ lực chính cũng như phụ và tình hình của trận thế. Ngoài ra, không có sự phối hợp giữa bộ binh và chiến xa.

Ưu thế của bạn (Việt Nam Cộng Hoà): Về không yểm, ban đêm có phi cơ Spectre AC.130 trang bị loại đại liên nồi 40 ly, đại bác 105 ly diệt tăng. Ban ngày, khi vừa chấm dứt các phi tuần của không quân chiến thuật, liền đến các phi vụ của không quân chiến lược B.52, cất cánh từ đảo Guam (Hoa Kỳ), oanh kích và oanh tạc không ngừng, đã đổ hàng chục ngàn tấn bom trên đầu Cộng quân. Cộng thêm tinh thần quyết tử chiến, của các Chiến Sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Chiến Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, và qua huấn lệnh tử thủ của Tướng Lê Văn Hưng, bên cạnh còn có các đơn vị tinh nhuệ : Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Biệt Cách Dù, đã được tăng viện đúng lúc và kịp thời, thêm vào lực lượng Dân Cán Chính tỉnh Bình Long, một lòng sát cánh bên Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đồng tâm quyết chí chống lại cuộc xâm lăng từ phương Bắc của quân Cộng Sản Bắc Việt đến cùng.

Về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, thì khắc chế được những gì yếu kém lúc ban đầu, như không có pháo binh tầm xa thì xử dụng không quân chiến thuật và không quân chiến lược, trải thảm bom để trả đũa và diệt pháo của địch, không có chiến xa đương đầu với T.54 của Cộng quân, thì được thay thế bằng hàng chục tổ chiến binh, được trang bị loại súng chống chiến xa cầm tay M.72, bắn hạ hàng loạt T.54 và PT.76. Cái ưu tư lo sợ mất tinh thần lúc ban đầu, đã đem lại cái hoan hỷ, tự tin và hăng say, săn lùng từng chiến xa địch đang ngơ ngác, trong vòng đai phòng thủ bên trong Thị Xã, thi đua nhau bắn hạ liên hồi các con mồi (chiến xa địch) không sót chiếc nào.

Căn cứ vào yếu tố điều nghiên để thiết lập hồ sơ trận liệt : đây mới là yếu tố quyết định trong vấn đề điều nghiên. Trong binh thư có câu : Biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Biết ta mà không biết người, trận thắng trận thua. Không biết người mà cũng không biết ta, trăm trận đều thua. Trong trường hợp mặt trận An Lộc, ta có thể lấy trường hợp thứ nhì (biết ta – Cộng Sản – mà không biết người – Việt Nam Cộng Hoà). Trở lại trận Lộc Ninh, theo bản điểu nghiên trận liệt địch biết phía bên Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có tổng cộng 1 Trung Đoàn chủ lực cộng thêm 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng và 1 Thiết Đoàn (khoảng 30 chiến xa M.41 và M.113) + Lực Lượng Chi Khu Lộc Ninh có khoảng 1 Tiểu Đoàn hỗn hợp gồm Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát … nên Cộng quân huy động một lực lượng đông hơn gấp 5 lần, nhất là lần đầu tiên sử dụng loại chiến xa T.54 và PT.76 vững mạnh hơn Chiến Xa M.41 và Thiết Vận Xa M.113 của Việt Nam Cộng Hoà . Nên ngay sau gần 48 giờ giao tranh, địch có ưu thế, và khống chế được chiến trận, bởi “Biết người biết ta” nên thắng trận. Trái lại, đối với mật trận chính tại Thị Xã An Lộc, dựa theo bản điều nghiên trận liệt thì lực lượng phòng thủ chỉ có nhiều nhất là 5 Tiểu Đoàn Bộ Binh (3 của Trung Đoàn 7 và 2 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long) và Bộ Chỉ Huy nhẹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (tổng cộng khoảng 1 Trung Đoàn (+), cái sai thứ nhì là đã điều nghiên tọa độ sai trật mục tiêu Bộ Chỉ Huy đầu não của lực lượng phòng thủ (vì giờ phút chót Bộ Chỉ Huy của Tướng Hưng đã di chuyển sang căn hầm của Trại Đỗ Cao Trí ). Cái sai trầm trọng nhất ngoài dự liệu, là phía quân phòng thủ nhất quyết không bỏ chạy, không rút lui, và ưu thế của các chiến xa T.54, bị bẻ gãy ngay từ trận đầu bởi các tổ M.72 chống chiến xa, vô tình để cho sĩ khí của các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà tăng cao lên tức khắc. Cộng quân ước tính, phía Việt Nam Cộng Hoà, có nhiều lắm là 1 Trung Đoàn (còn ít hơn ở Lộc Ninh), lại không có pháo không có tăng, nên cũng tuồng cũ soạn lại : Dùng 4 Trung Đoàn chủ lực, chĩa mũi dùi đánh thẳng vào các cơ sở đầu não của lực lượng phòng thủ, sau khi chế ngự hầu hết các điểm cao xung quanh An Lộc (trừ Đồi Gió và Đồi 169 phía Đông Nam). Địch hình dung địa thế An Lộc như là một lòng chảo giống Điện Biên Phủ khi xưa (mặc dù thực tế nhỏ hơn nhiều vế quân số cũng như địa hình địa vật). Nhưng khi va chạm vào thực tế thì tại An Lộc vào ngày 12 tháng 04 năm 1972 đã có đến 3 Trung Đoàn quân chủ lực thiện chiến và 2 Tiểu Đoàn của Tiểu Khu Bình Long. Và ngay mũi dùi chính tấn kích từ hướng Bắc gặp phải 2,500 quân của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trong tay lại có hơn 2,000 khẩu M.72 chống chiến xa với 400 tay xạ thủ rành nghề và quyết tử, nên thua trận. Đúng với câu biết ta mà không biết người thì trận thắng trận thua.

B.- YẾU TỐ CHIẾN THUẬT

a.- Theo binh pháp cận đại của Tàu Cộng : Chiến Thuật biển người, tiền pháo hậu xung, bịt pháo công đồn, nhị thức bộ binh chiến xa.

b.- Binh thư Tôn Tử có ghi chép : về việc bao bây, tấn công, nguyên tắc căn bản khi mở cuộc bao vây, tấn công hay chia cắt: khi quân ta đông hơn địch gấp 10 lần hơn thì mở cuộc bao vây, khi quân ta đông gấp 5 lần hơn địch thì mở cuộc tấn công trực diện, khi quân ta bằng với quân địch thì phải áp dụng thế nghi binh hay chia cắt.

Quân Cộng Sản Bắc Việt áp dụng chiến thuật biển người (còn gọi là chiến thuật nướng người ), như trận Điện Biên Phủ năm 1954, pháo rất nặng (mưa pháo), sau khi dứt các đợt pháo, thì mở cuôc xung phong, như kẻ điếc không sợ tiếng súng, cận chiến đánh xáp lá cà như thằng mù, truớc các họng súng đại liên M.60 và các súng cá nhân M.16 của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và bị tan xác dưới các trận oanh tạc của Không Quân Chiến Thuật và Chiến Lược của Không Quân Hoa Kỳ.

Chiến thuật bịt pháo công đồn : pháo vào các căn cứ hoả lực có đại bác 105 ly hoặc 155 ly như Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh Tại cứ điểm An Lôc, và Pháo Đội Dù trên đĩnh Đồi Gió rồi xua quân tấn công vào Thành Phố An Lộc và Tiểu Đoàn 6 Dù đang trấn giữ bảo vệ vị trí Pháo Binh .

Áp dụng nhị thức Bộ Binh và Chiến Xa : Vì là lần đầu tiên lực lượng Cộng quân có chiến xa yểm trợ để tấn công, nên giữa các đơn vị tùng thiết và các chiến xa T.54 & PT.76 mạnh ai nấy đi . Bộ Binh thì lo chạy tránh Pháo, Chiện xa thì cứ tiến nhanh vào thành phố ..Nên dễ làm mồi cho các tổ phóng hoả tiễn M.72 của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà.

Chiếu theo các tài liệu, vào lúc khởi phát cuộc bao vây An Lộc, địch có khoảng từ 35,000 đến 37,000 cán binh, còn bạn thì chỉ có Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Việt Nam Cộng Hòa và lực lượng diện địa lãnh thổ Tiểu Khu Bình Long,cộng chung 5 Tiểu Đoàn, cùng Bộ Chỉ Huy Nhẹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, tổng cộng tối đa khoảng 2,200 quân sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Như vậy là địch đông trên hơn 24 lần, nên địch mở cuộc bao vây An Lộc và tấn công từng mặt một (có thể nói là hoàn toàn khinh địch) .

C.- YẾU TỐ TÂM LÝ BẤT NGỜ

Phía Quân Việt Nam Cộng Hoà bị bất ngờ khi Quân Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn kích, khi Địch mở trận mưa pháo tàn khốc, và xử dụng chiến xa, khiến cho Quân Sĩ Việt Nam Cộng Hoà bị mất tinh thần trong giai đoạn đầu, mở màn trận đánh Lộc Ninh. Và vì địch vi phạm lỗi lầm khi áp dụng nhị thức bộ binh & chiến xa, không có sự yểm trợ hỗ tương lẫn nhau, nên dễ làm mồi cho các tổ khinh binh Việt Nam Cộng Hoà được trang bị những khẩu M.72, khí thế hùng hổ của địch quân vừa đông quân số vừa có Chiến Xa trợ chiến, nhưng khi Chiến xa chạy lạc bị bắn cháy, bộ binh quân Cộng Sản Bắc Việt lại đâm ra mất tinh thần, còn phía bên Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, khi thấy trong tay mình có hàng ngàn khẩu M.72, và biết chắc là loại vũ khí khắc tinh của chiến xa địch, thì đâm ra tự tin, phục hồi tinh thần trở lại nhanh chóng, đua nhau đi tìm diệt tăng dịch.

Đó là yếu tố tâm lý bất ngờ, mà cả đôi bên mới vừa phát hiện trên trận địa khi lâm chiến, không một binh gia nào có thể dự liệu hay tiên đoán được, và nhờ thế đã đem đến thắng lợi cuối cùng cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

D- YẾU TỐ THỜI CƠ

Yếu tố thời cơ cũng là một trong những nhân tố quyết định, cho sự thắng bại của chiến trường An Lộc. Thời cơ đây, có thể nói là, thời điểm thuận tiện nhất để đè bẹp đối phương, khống chế trận chiến . Thời cơ khi đến cũng rất nhanh chỉ trong vòng vài ba ngày là cùng, nếu đã để lỡ dịp, thì thời cơ sẽ đi qua, không bao giờ trở lại. Thí dụ : Khi quân đội Cộng Sản Bắc Việt chiếm xong Lộc Ninh (chỉ trong vòng có 2 ngày, sớm hơn dự tính của kế hoạch là phải mất từ 7 đến 10 ngày), khí thế và tinh thần các cán binh Cộng Sản Bắc Việt đang lên cao, và còn đang say men chiến thắng, trong lúc tại An Lộc Lực Lượng Phòng Thủ chỉ mới có Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân và Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà mà thôi … vì sự trì hoãn lo chỉnh đốn hàng ngũ và bổ xung quân số, nhất là do lòng tham, tóm nhặt chiến lợi phẩm và những thứ khác của Quân Dân Lộc Ninh… bỏ lỡ cơ hội bằng vàng để đạt được chiến thắng và dứt diểm An Lộc. Sở Chi Huy Chiến Dịch khi nhận định như thế đã ra quyết nghị chuyển cho Bộ Chỉ Huy Mặt Trận là phải tiếp tục tiến quân tấn chiếm An Lộc ngay trước ngày 09 tháng 04 năm 1972 (sau 2 ngày tấn chiếm Lộc Ninh). Nhưng Bộ Chỉ Huy Mặt Trận do Tướng Trần Văn Trà lãnh đạo lại không đồng ý, để trì trệ cho đến ngày 13 tháng 04 mới khai hoả, trong khi ngày 12 tháng 04 năm 1972 phía Việt Nam Cộng Hoà có được thêm 2,500 tay súng, trong đó có 400 Lao Công Đào Binh quyết tử chiến với quân Băc Phương, của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, lợi hại nhất là trong tay có trên 2,000 khẩu M.72, loại khắc tinh của chiến xa địch, cũng từ chỗ đó, 15 T.54 đi đầu khi chạy vọt đại vào trong thị trấn (trong đợt tấn công đầu tiên, cũng do Sư Đoàn 5 Cộng Sản Bắc Việt làm chủ lực) đã bị các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà bắn hạ hầu hết không còn một chiếc nào, và cũng từ đó các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà được biết chắc là loại vũ khí M.72 có trong tay rất có hiệu quả bắn diệt tăng địch, cũng từ chỗ đó tinh thần và sĩ khí diệt tăng địch lên cao, để tiếp tục chống trả quyết liệt trong những cuộc tấn kích về sau này của Cộng quân. Đổi lại các cán binh Cộng Sản Bắc Việt tùng thiết đâm ra mất tinh thần, mất hết nhuệ khí, khi thấy chiến xa bị bắn cháy. Rồi kế tiếp đến, Lực Lượng Nhảy Dù và nhất là Lực Lượng Biệt Cách Dù được đổ vào An Lộc, từ đó cán cân chiến thắng đã nghiêng hẳn về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Tóm lại, dù bạn hay địch, nếu bên nào nắm được lợi điểm ở 4 yếu tố kể trên, thì phần thắng sẽ nghiêng về bên đó. Và ai biết khai thác những cái khuyết điểm của đối phương cũng như biết khắc chế những yếu điểm của quân mình thì sẽ đạt được chiến thắng sau cùng của trận chiến.

E- CÁC CỐ VẤN HOA KỲ, LIÊN LẠC VỀ KHÔNG YỂM CHO CHIẾN TRƯỜNG AN LỘC, ĐƯỢC MÔ TẢ NHƯ SAU :

1.- Chiếu theo dư luận của giới quân sự Hoa Kỳ, họ cho rằng nếu không nhờ Không Quân của Hoa Kỳ yểm trợ thì An Lộc đã bị quân Cộng Sản Bắc Việt đè bẹp ngay từ khi khởi đầu trận chiến.

Việc này đúng hoàn toàn hay chỉ đúng một phần nào, xin quý độc giả đọc tiếp những sự thật về các cố vấn Mỹ và về không yểm (pháo đài bay B.52, oanh tạc cơ phản lực, trực thăng tiếp tế) của Không Lực Hoa Kỳ như sau :

a.- Các cố vấn Mỹ cũng có người rất tận tâm trong chức vụ cố vấn của mình, ngay cả hy sinh tính mạng, điển hình như Trung Tá Schott quyết định tự sát để cho các cố vấn còn lại thoát thân khi Lộc Ninh thất thủ.

Kế tiếp, tại mặt trận Cầu Cần Lê toàn thể toán cố vấn Mỹ của Chiến Đoàn 52 của Sư Đoàn 18 Bộ Binh rất là tận tâm trong chức vụ cố vấn. Người rất đáng được ca tụng là Trung Tá Ginger, cố vấn trưởng, mặc dù đã bị thương khá nặng, đã từ chối không gọi trực thăng tản thương đến để di tản, mà quyết định ở lại để giúp cho vị Chiến Đoàn Trưởng là Trung Tá Thịnh gọi trực thăng võ trang và các phi tuần phản lực , xạ và oanh kích địch một cách có hiệu quả. Nhờ vậy mà Chiến Đoàn 52 thoát khỏi được vòng vây của hai Trung Đoàn Cộng Sản Bắc Việt.

Việc tản thương Đại Úy Zumwatt ( Cố vấn Phó Chiên Đoàn 52 (-), khi trực thăng có sơn chữ thập đỏ đáp xuống ngay giữa trận tiền, đang hồi sôi bỏng tiếng súng, liền bị quân Cộng Sản Bắc Việt xả súng bắn, kết quả đã gây tử thương cho vị phi công phụ là Đại Úy Robert L. Hors và một y tá (không rõ tên) trên phi cơ.

Kế tiếp là các cố vấn của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù : Đại Úy Huggings và Thượng Sĩ Yearta rất tận tình trong chức vụ, với người bạn đồng minh đã giúp trực thăng tản thương rất là nhanh chóng để tản thương một số chiến binh Biệt Cách Dù và Biệt Động Quân tại vùng Đôi gió, và liên lạc với C.130 thanh toán mục tiêu đồn Cảnh Sát Dã Chiến,giúp cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, ủi xong đồn Cảnh Sát Dã Chiến, phía Bắc Tỉnh lỵ An Lộc, và sau cùng chỉ điểm cho trực thăng võ trang Cobra xạ kích, sát hại hằng trăm quân Cộng sản Bắc Việt xung quanh Đồi Đồng Long ( 08 tháng 6 năm 1972 ) .

Kế tiếp các cố vấn của Liên Đoàn 1 Nhảy Dù, của Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh, của Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, của Trung Đoàn 31, 32, 33 Sư Đoàn 21 Bộ Binh, rất tận tình trong chức vụ đối với người bạn đồng minh của mình trong suốt cuộc chiến.

Đặc biệt là các phi hành đoàn của Không Đoàn Vận Tải C.130 Hoa Kỳ trách nhiệm thả dù tiếp tế cho quân bạn Việt Nam Cộng Hoà tại An Lộc, bị cao xạ và phòng không của địch bắn rơi và tử thương trong lúc thi hành nhiệm vụ. Thật là những gương hy sinh cao cả.

Sau cùng là vị tướng Mỹ Tillman trong lúc đáp xuống viếng thăm An Lộc khoảng ngày 10 tháng 07 năm 1972. Khi ông vừa rời khỏi Trực Thăng thì bị một quả pháo nổ ngay bãi đáp, gây tử thương cho ông và một số sĩ quan cao cấp của Lực Lượng 2 Dã Chiến Hoa Kỳ.

b.- Bên cạnh những vị anh hùng cố vấn Mỹ đã quên thân mình cho ý nghĩa cao cả tự do, và tận tụy trong chức vụ Cố Vấn của mình, đối với người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hoà, thì cũng có những sự việc không mấy tốt đẹp: Chúng tôi xin lược kê như sau:

Trước tiên là toán cố vấn Mỹ của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Viên Cố Vấn Trưởng là Trung Tá Abramawith, và toàn toán Cố vấn Mỹ, từ chối không chịu theo Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đổ vào tăng viện cho mặt trận An Lộc.

Kế tiếp là Đại Tá Miller, Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đòi rút hết toán cố vấn về Lai Khê viện lẽ hầm nổi dã chiến của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh không đủ an toàn. Nếu Tướng Hưng không tìm được ra một căn hầm khác (trại Đỗ Cao Trí) thì Sư Đoàn 5 Bộ Binh cũng giống như tình trạng của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà vậy.( Mặt dầu đó là vận may cho toàn thể Bộ Chỉ Huy của Tướng Hưng và cả toán Cố Vấn Mỹ ), Đại Tá Miller bắt buộc phải tận tình trong chức vụ, trước tiên là để bảo toàn mạng sống cho toàn toán Cố Vấn Mỹ,sau mới đến việc mang chiến thắng cho Quân tữ thủ Việt Nam Cộng Hòa .

2.- Nói về không yểm thì thật là dồi dào, những phi vụ phản lực cơ, và B.52 cũng như những chiếc C.130 có súng đại bác 105 ly và trực thăng võ trang Cobra đã yểm trợ rất đắc lực trong suốt trận chiến.

Bên cạnh những nỗ lực không yểm kể trên, còn có vài điểm khác biệt cũng cần phải nêu lên để làm sáng tỏ dư luận :

Về không quân chiến lược B.52 (đã ba lần từ chối theo như yêu cầu của phía Việt Nam Cộng Hoà) :

– Lần thứ nhất vào ngày 18 tháng 04 năm 1972 tại vùng phi trường Quản Lợi (tính chất mục tiêu là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt và những nhân vật đầu não của Cục R và 2 trung đoàn chính quy quân Cộng Sản Bắc Việt).

– Lần thứ nhì vào ngày 20 tháng 05 năm 1972 (tính chất mục tiêu là Bộ Chỉ Huy của Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt).

– Lần thứ ba vào ngày 22 tháng 05 năm 1972 (tính chất mục tiêu là hầm chốt Xa Cam cấp 2 trung đoàn).

Về trực thăng tiếp tế và tản thương.

– Tất cả các trực thăng tiếp tế cũng như tản thương của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đều không thể đáp xuống mặt trận An Lộc trong thời gian cuộc chiến đang sôi động . Dư luận của các cố vấn Mỹ cho là phi công Việt Nam Cộng Hoà nhát gan, sợ phòng không địch nên không muốn đáp xuống trận địa. Trong lúc đó thì phi cơ trực thăng tiếp tế của Hoa Kỳ vẫn đáp lên xuống đều đặn, đem đồ tiếp tế cho các cố vấn Mỹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Tiểu Khu Bình Long, không chiếc nào bị phòng không Cộng Sản Bắc Việt ngăn cản.

– Theo lời tường thuật của Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức đại diện Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, đích thân quan sát, đàm thoại và chứng kiến tận mắt, , cho biết : Sở dĩ trực thăng Mỹ được ra vào An Lộc một cách an toàn, là vì phía dưới luờn của trực thăng Mỹ và các mũ phi hành của tất cả phi hành đoàn, đều có sơn màu trắng, thay vì màu olive như các đơn vị Trực Thăng tác chiến của Việt Nam Cộng Hoà.

Như vậy, câu hỏi được đặt ra là, phía đồng minh Hoa Kỳ có đường giây bí mật nào liên lạc với địch quân , để nhận được một thoả hiệp như thế hay không?

Nếu có, thì quả là tay phải thì giúp, tay trái thì năn nĩ, vuốt ve quân thù của người bạn đồng minh của mình.

F- KẾT LUẬN

Sự việc gì cũng đều có hai mặt, mặt trái và mặt phải. Người thì nói là nhờ cố vấn và không lực Mỹ, An Lộc mới còn đứng vững sau 93 ngày quyết chiến, kẻ thì nói người bạn đồng minh của mình (Mỹ) bề ngoài thì giúp nhưng bề trong lại đi thoả hiệp ngầm với địch.

Nếu nghĩ rằng, nhờ yểm trợ dồi dào về không quân Hoa Kỳ, nhưng nếu không có một tinh thần quả cảm của quân dân Việt Nam Cộng Hoà, thề quyết sống chết cho quê hương đất Tổ Việt Nam, thì làm sao An Lộc có thể đứng vững trong suốt 93 ngày đó? Hay nói khác đi, nếu các cố vấn Mỹ và không quân Hoa Kỳ yểm trợ Quân Dân Việt Nam Cộng Hoà đánh Cộng Sản, mà quân dân của Việt Nam Cộng Hoà không có quyết tâm tử thủ, buông súng đầu hàng địch quân, thì liệu An Lộc có đứng vững hay không? Xin để quý vị độc giả và hậu thế phán xét.

Advertisements