CT.An Lộc 1972.Phần III

CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 – Phần 3
CHƯƠNG 6 – MẶT TRẬN ĐỒI GIÓ & ĐỒI 169

(KHỞI DIỄN VÀO ĐÊM 18/04/1972)

1. TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG GIỮA ĐÔI BÊN

Địch: Cộng quân tung vào chiến trận hai Trung Đoàn chính quy Cộng Sản Bắc Việt: Trung Đoàn 141 Công Trường 7 và Trung Đoàn 272 Công Trường 9, một đại đội chiến xa T.54 thuộc Trung Đoàn 203, dưới sự yểm trợ của các khẩu pháo 130 ly của Sư Đoàn 69D từ hướng Tây và các khẩu pháo 105 và 155 ly (chiến lợi phẩm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà) từ phi trường Quản Lợi về hướng Đông. Quân số vào khoảng trên 4,000 (Bộ Binh và Thiết Giáp).

Bạn: Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, sau khi đổ quân được an toàn xuống khu vực đồi Gió, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn cùng hai Tiểu Đoàn 5 và 8, di chuyển vào An Lộc, còn Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù ở lại trấn giữ khu Đồi Gió và Đồi 169, tạo thành một căn cứ hoả lực dã chiến pháo binh, để yểm trợ cho toàn thể mặt trận An Lộc trong vòng 8 cây số đường kính chung quanh thị xã.

Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, cắt cử Đại Đội 61 trấn thủ mặt Đông Bắc cạnh ấp Srok Ton Cui dưới chân đồi, còn Tiểu Đoàn (-), rút lên cao điểm đồi Gió và Đồi 169 đào hầm hố phòng thủ và khai quang cấp thời, hình thành vị trí pháo binh dã chiến trên lưng đồi để bảo vệ pháo đội pháo binh Dù (6 khẩu 105 ly nòng ngắn đang được các chiếc trực thăng Chinook câu đến), tổng cộng có 750 chiến binh Dù kể, cả pháo đội pháo binh và Bộ Chỉ Huy nhẹ của Lữ Đoàn 1 Dù.

Sự hiện diện bất ngờ, ngoài dự liệu của địch . Căn cứ hoả lực Đồi Gió và Đồi 169 của quân Dù Việt Nam Cộng Hoà, đã bắt đầu gây khó khăn cho tất cả các cánh quân địch, đang muốn tiến sát vào tiếp tục tấn công An Lộc, trong vòng đường kính 8 cây số; như là một chiếc gai nhọn, đang đâm thủng chiếc bọc bao vây An Lộc của Cộng quân, cho nên Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt,quyết định phải nhổ đi cái căn cứ hoả lực trên cao thế nầy với bất cứ giá nào.

Tại mặt trận Đồi Gió và Đồi 169, chiến trận được diễn ra khốc liệt hơn. Cộng quân cũng áp dụng chiến thuật “Tiền Pháo Hậu Xung Biển Người”. Cộng quân mở trận mưa pháo trên 2 ngàn quả đạn vào vị trí phòng ngự của Tiểu Đoàn 6 và Pháo Đội Dù trên toàn vùng yên ngựa từ đồi Gió đến Đồi 169. Sau trận pháo, Cộng quân huy động hai trung đoàn thiện chiến nhất của hai công trường: Trung Đoàn 141 của Công Trường 7 (đơn vị được rút đi từ đêm 13 rạng 14 tháng 04 để bảo vệ bộ chỉ huy đầu não cục R, đang còn kẹt lại ở vùng phía Đông), và Trung Đoàn 272 của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt đang có mặt tại phía Đông phi trường Quản Lợi. Lực lượng bộ binh địch, được tăng cường đại đội chiến xa T54 thuộc trung đoàn chiến xa 203 Cộng Sản Bắc Việt trợ chiến (tổng cộng quân số bộ binh có trên dưới 4,000 cán binh và gần 100 quân của đại đội chiến xa T54, mở hàng loạt xung phong biển người vào các vị trí phòng ngự của quân Dù Việt Nam Cộng Hoà.

2. TIỂU ĐOÀN 6 DÙ, ĐỒI GIÓ ĐỔI TÊN

Tác giả Phan Nhật Nam viết về một “chiến trường đẫm máu” đoạn nói về Tiểu Đoàn 6 Dù, Đồi Gió Đổi Tên … nguyên văn như sau:

2100g của ngày 19 được đánh dấu bởi quyết định của “Lê Lợi”: Tiểu Đoàn 6 không còn nhiệm vụ giữ pháo nữa, chỉ còn nhiệm vụ giữ cao địa. Tiểu Đoàn Trưởng toàn quyền quyết định. Pháo còn nữa đâu mà giữ, chưa đầy 48 giờ đã mất 6 khẩu pháo với ngàn quả đạn, bây giờ ở đây làm gì ? Dọt. Đỉnh dẫn Đại Đội Chỉ Huy và Đại Đội 62 xuống đồi hướng về phía ấp Srok, nơi đang có 61 lập vị trí, để lại đồi hai Đại Đội 63 và 64 cho Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng trấn giữ.

Vinh con ào xuống như núi lở, Cộng quân bung ra khép lại. Vinh tiếp tục lấn… Chân đồi Gió và ấp Srok lại kẹt thêm cái suối Rộ. Vinh cựa quậy khó khăn dưới đám lau – sậy rưộng sũng nước – Nó bâu tôi như đỉa đói, dứt không nổi anh Năm. Vinh hét với Đỉnh trong máy… Tối quá chỉ có sờ ngực áo mà đánh lưỡi lê thôi, … quên sờ nón sắt mà nhận bạn.

Nhưng Cộng quân cố chận bằng mấy lớp hàng rào người, 11 giò đêm Vinh cũng rờ được cái ấp … nơi đây Đại Đội 61 đang trông chờ từ lúc trời chập tối, 400 m từ chân đồi đến người lính gác của Đại Đội 61, thành phần của Tiểu Đoàn 6 Dù đi mất 3 giờ, 3 giờ thêm một số thương binh vì lưỡi lê và mảnh lựu đạn của 400 m cận chiến !

Bây giờ là 0giờ00 của ngày 19 bước qua 20, Cộng quân không phải chỉ một thành phần, một cánh quân, nhưng mà là một lũ người, một lớp sóng người chen vai thích cánh, lố nhố đầy chân Đồi Gió, chân đồi phiá Tây lẫn chân đồi phía Đông… Cộng quân tràn ngập đường 245 như trẩy hội, Cộng quân bao quanh ấp Srok Ton Cui như đàm người đói vây quanh vị trí phát chẩn. Không phải là một cuộc điều quân nhưng là một chợ người, lộn xộn ồn ào, la hét tìm đơn vị, chuyển lệnh.

– Ngày hôm nay sao máy bay “ngụy “ nhiều quá ! – Sao mày không bắn ! Tao chỉ có AK – AK thì AK, bắn cho “ngụy” sợ.

Ở trong này, Đỉnh thì thầm liên lạc với các Đại Đội 61, 62, và 60: các toa dặn lính đừng bắn, tụi nó đi đâu cho tụi nó đi, chỉ bắn khi nào nó tấn công mình thôi”.

“- Chúng tôi nhận hiểu”. Cả 3 Đại Đội Trưởng đều thở dài, lấy gì mà bắn nữa !! Nhưng dù vô trật tự tới đâu, Cộng quân cũng tập họp lại được hàng ngũ, 3 giờ sáng tiếng kèn thúc quân vang lên lồng lộng… Xong rôi, tụi nó dứt mình …

Tiếng kèn thúc quân xoáy trong đêm, vang dọc theo đường 245. Bỏ mẹ, nó bố quân cả 3 cây số đường dài. Đỉnh run tay khi nghe hiệu lệnh từ đầu đến cuối hàng quân, đồng thời từ phía Bắc đầu đường 245 có tiếng động cơ máy nổ, ánh sáng đèn pha quét ngang dọc bóng đêm. Tăng T54. Cộng quân “dứt điểm” Tiểu Đoàn 6 Dù không nương tay.

3 giờ đúng. Đồi Gió bị tấn công trước. Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng, mặt sắt đen sì, con ngườí quá khổ, chậm rãi điềm tĩnh và hùng tráng như một hiệp sĩ thời cổ đứng ra khỏi hầm điều khiển hai Đại Đội 63, 64 phân công. 63 của Hoàng và 64 của Tuấn, 2 đại đội đã thử lửa với Cộng Sản Bắc Việt từ ngày 17, 2 Đại Đội Trưỏng “tới” quá mức, dũng cảm như những thiên thần tung hoành trên đầu lũ quỷ say máu. Tất cả đều ở tuyến chiến đấu, không còn Khinh Binh, Tổ Trưởng, Trung Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Phó … chỉ còn một hàng ngang theo giao thông hào, điểm phân biệt người chỉ huy là tay nói máy chuyển lệnh, tay ném lựu đạn, 2 đại đội chỉ trừ những người chết hay bị thương mê man, thương binh chỉ tạm băng bó sơ qua vết thương, đứng hoặc dựa lưng vào thành giao thông hào để chiến đấu.

4 giờ trong bóng tối ngả màu tím của ngày sắp đền, 4 chiếc T.54 chia từ hai hướng Đông và Đông Bắc bắt đầu lên đồi, lính tùng thiết Cộng Sản Bắc Việt chạy lố nhố theo sau để tính bề diệt gọn. Trăng thượng tuần gần sáng dọi ánh sáng trắng lạnh xuống sườn đồi vằng vặc, khối sắt đen lóng lánh tiến dần vào cùng động cơ vang ầm ì, ngọn đèn vẫn giữ nguyên độ sáng ở vị thế “pha”, luồng sáng dọi thẳng lên đồi hỗn xược thách thức … Hai chiếc T54 đầu tiên bò lần lần từng thước đồi dựng đứng.

– Để tao thanh toán nó”, Tuấn đứng thẳng khỏi giao thông hào, kéo chiếc ống M72 cơ hữu (trên nguyên tắc chỉ khinh binh mới có M72). Rút hết các chốt an toàn. .. Tách ! Sợi giây an toàn cũng đã bị đứt, Tuấn đưa chiếc hoả tiễn lên vai nheo mắt … 100 thước, còn xa, 80 thước, hơi xa, 50 thước, đủ ! Tuấn bị loá mắt bởi hai ngọn đèn dọi thẳng mặt… Ầm ! Quả hoả tiễn dập vào giữa hai điểm sáng, hơi chếch cao một chút, trúng ngay pháo tháp… Chiếc thứ hai tăng tốc độ hú tiếng lớn nhấc một cái lên tuyến phòng thủ, hạ sĩ Nhu, Tiểu Đội Trưởng can trường không kém Đại Đội Trưởng, nhẩy vội lên pháo tháp, quả lựu đạn phát nổ sau khi Nhu vừa kịp nhảy xuống.

Hai chiếc T54 của phía Đông thì do chính Hoàng và một binh sĩ khác hạ… Cộng quân dạt lui xuống chân đồi để đại pháo rưới thêm một lớp, lớp thứ sáu kể từ lúc khởi đầu trận đánh. Ngày tới với ánh sáng cùng cơn mưa pháo thứ bảy, đỉnh đồi bây giờ tan hoang, điêu tàn và bốc khói, khói của đạn địch và khói của đạn ta cháy dở … “Hột lạc” dài 300 m ngang 70 m, hứng khoảng 2,000 quả đạn trong một đêm với vị trí dã chiến, ngày chiếu ánh sáng rọi rõ cảnh vật tan nát ..

Tiểu Đoàn Phó Bằng bị “tung” một mắt. Tuấn hứng một quả 75 ly, quả đạn nổ ngay trên thân thể người sĩ quan trẻ mới 23 tuổi… số tuổi quá nhỏ đem so với chiến trường nặng độ. Đồi Gió kể từ đó mang tên mới: Đồi “Quốc Tuấn”, danh hiệu truyền tin của Tuấn, Cao Quốc Tuấn.

Với một con mắt đẫm máu, Bằng nghiến răng, nhướng mắt còn lại giữ vững đồi cho đến lượt tấn công thứ 16. 12 giờ trưa ngày 20, Bằng kiệt lực suôi tay bỏ rơi chiếc combiné, gọi Hoàng đến:”Thay moa đem hai đai đội về 169 (Tây Nam Đồi Quốc Tuấn với một cái yên ngựa chập chùng trên 2 km đường rừng rậm). Nhớ dem hết thương binh, kẻ chết phải chôn lại …” (18) (Xem bản đồ 7)

Chú thích: (18) Chiến Trường Đẫm Máu 1972 An Lộc Anh Dũng bài 4, trang 1, 2, 3 của tác giả Phan Nhật Nam.

3. KHÔNG QUÂN YỂM TRỢ CHO CHIẾN TRƯỜNG TRONG ĐỢT TẤN CÔNG LẦN THỨ BA

Ngay từ khi khởi đầu cuộc chiến, một lằn ranh phân định về không yểm cho chiến trường An Lộc cũng đã được các giới chức cao cấp Việt Mỹ thảo luận và đồng ý chấp nhận một lằn ranh giới:

A- Không Quân Hoa Kỳ (Không Quân Chiến Thuật cũng như Không Quân Chiến Lược B52) , trách nhiệm yểm trợ cho chiến trường từ phía Bắc quận Chơn Thành 3 cây số trở lên đến Lộc Ninh xuyên đến ranh giới Việt Miên, trừ vùng không phận căn cứ hoả lực Tống Lê Chân 15 cây số Tây Nam An Lộc giáp ranh hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long.

B- Không Quân Việt Nam Cộng Hoà (Không Quân Chiến Thuật, Trực Thăng Võ Trang) lãnh trách nhiệm từ lằn ranh giới quy định trở về phía Nam.

C- Riêng trực thăng đổ quân, do Không Đoàn 43 Trực Thăng thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà (căn cứ Biên Hoà đảm trách toàn vùng; Trực thăng tản thương, có sự phối hợp Việt Mỹ, không phân chia ranh giới).

D- Thả dù tiếp tế, do Không Đoàn C.119 và C.123 thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà căn cứ tại phi trường Tân Sơn Nhất đảm trách.

Trong suốt đêm 18 tháng 04, những chiếc AC.130 (Spec- tre) của Không Lực Hoa Kỳ có thiết trí đại bác 105 ly và nhiều khẩu đại liên đủ cỡ, được điều khiển bằng hệ thống Mắt Thần, bay ở cao độ ngoài tầm sát hại của các loại phòng không địch, thay phiên nhau, không ngừng nghỉ yểm trợ quân bạn, tại các tuyến đầu xung quanh thành phố An Lộc và tại căn cứ Đồi Gió và Đồi 169, do sự điểu khiển trực tiếp của các Cố Vấn Mỹ, đang có mặt tại từng đơn vị bộ binh Việt Nam Cộng Hoà. Sự yểm trợ rất đắc lực và gần như chính xác này, đã gây rất nhiều thương vong cho các cán binh Cộng Sản Bắc Việt, áp dụng chiến thuật, xung phong biển người, cũng như các chiến xa của địch quân bị bắn cháy, không có chiếc nào chạy thoát. Sự yểm trợ này được tiếp diễn qua suốt ngày hôm sau, cho lực lượng Dù tại vùng Đồi Gió và Đồi 169, còn về các phi vụ B52, cũng đã được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III hoạch định những Box B52 oanh tạc tiên liệu cho toàn chiến trường An Lộc, tổng cộng ghi nhận có tất cả 13 Box B52, trọn ngày 19 tháng 04 năm 1972, ngoại trừ mục tiêu phi trường Quản Lợi, nơi đặt bản doanh đầu não của Cục R quân Cộng Sản Bắc Việt.

Kết luận: Sau 3 lần tấn công, Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt được lệnh rút ra khỏi trận chiến, về điểm tập trung, chấn chỉnh lại hàng ngũ, cũng có nghĩa, đã bị thiệt hại nặng, không còn đủ sức để mở thêm bất cứ một cuộc tấn công nào khác. Thực lực gom hết lại, chỉ còn có chừng 1 trung đoàn, được tăng cường cho Công Trường 9 . Công Trường 5, Cộng Sản Bắc Việt, di chuyển về vùng Đồng Bằng sông Cửu Long thuộc Vùng 4 Chiến Thuật, để tĩnh dưỡng và bồ sung quân số. (19)

Chú thích: (19) Hồi ký của Tướng Cộng Sản Bắc Việt Hoàng Cầm trang 278.
CHƯƠNG 7 – TRẬN TẤN CÔNG LẦN THỨ TƯ VÀO THỊ TRẤN AN LỘC, KHỞI DIỄN VÀO ĐÊM 10 THÁNG 05 NĂM 1972

1. ĐỊCH QUÂN THAY ĐỔI CÔNG TRƯỜNG 5 BẰNG CÔNG TRƯỜNG 9 CỘNG SẢN BẮC VIỆT.
Khai thác vào những tin điện mật mã, bắt được từ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt, quân Địch được tái phối trí lại, và cũng dựa theo những nguồn tin đó, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cũng tái bố trí cho phù hợp tình hình chiến trường như sau:

1.1 Tại Mặt Trận Phía Bắc Thành Phố

Về Lực Lượng Địch: Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, sau 3 lần tấn công bất thành vào thành phố, dường như bị kiệt quệ, đã nướng trên 2 trung đoàn bộ chiến và gần nguyên tiểu đoàn chiến xa của trung đoàn chiến xa 203, tàn quân còn lại chưa đầy 1 trung đoàn được tăng cường cho Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt đang lẩn quẩn phía Tây, Tây Bắc thành phố trong khu vực Đồi Đồng Long. Viên Chính Ủy và viên Thủ Trưởng Công Trường 5 đều bị khiển trách nặng nề, vì không những đã làm tê liệt cả sư đoàn cơ hữu, mà còn làm thiệt hại lây cả Công Trường Bình Long và một phần của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt nữa (theo lời cung khai của tù hàng binh Cộng Sản khai báo sau này). Về khả năng tác chiến hay tấn công không còn nữa.

Về Lực Lượng Bạn: Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, mặc dù bị thiệt hại khoảng 40% quân số, nhưng ngược lại được tăng cường thêm 550 chiến sĩ Biệt Cách Dù rất tinh nhuệ, do đó quân số trên tuyến phòng thủ mặt Bắc vẫn còn trên 2,000 tay súng cừ khôi, chiến đấu dũng mãnh,

1.2 Tại Mặt Trận Phía Đông Thành Phố

Về Lực Lượng Địch: Công Trường Bình Long, sau 3 đợt tấn công có sự trợ lực của Trung Đoàn 272 Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt và 1 đại đội chiến xa, đã bị tổn thất phân nửa quân số (đa số là lính Miên, rất sợ máy bay oanh tạc), và 1 tiểu đoàn đặc công của Cục R Cộng Sản Bắc Việt, còn lại vài chiến xa đang có mặt tại vùng phía Đông phi trường Quản Lợi. Tinh thần các cán binh rất sút kém (trừ Tiểu Đoàn Đặc Công Cục R).

Về Lực Lượng Bạn: Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân đã bị hao tổn 1/3 quân số, nhưng khi được biết bên cạnh mình đang có Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đang rượt đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt thì cả gần 1,000 tay súng gan lỳ Biệt Động Quân, tinh thần quyết chiến thắng lại lên cao, nên phòng tuyến mặt phía Đông khá vững chắc.

1.3 Tại Mặt Trận Phía Tây Thành Phố

Về Lực Lượng Địch: Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt, được lệnh điều động rút trở về 2 trung đoàn cơ hữu 271 và 272 , từ vùng Đồi Gió và vùng phi trường Quản Lợi, cho tái bổ sung quân số đã bị hao hụt, cùng một thành phần cấp trung đoàn còn lại của Công Trường 5, được tăng cường cho 1 tiểu đoàn của Trung Đoàn Thiết Giáp 203 (-), để chuẫn bị làm nỗ lực chính cho đợt tấn công sắp tới, đang có mặt trong vùng phía Tây thành phố.

Về Lực Lượng Bạn: Trung Đoàn 7 Bộ Binh còn lại chưa đủ 1,200 tay súng, so với quân Cộng Sản Bắc Việt đang có mặt trong phần trách nhiệm trên 10,000 có cả chiến xa trợ chiến, rõ là một mối đe dọa cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Tướng Hưng bên sườn trái.

1.4 Tại Mặt Trận Phía Nam Thành Phố

Về Lực Lượng Địch: Công Trường 7 (-) còn lại Trung Đoàn 165, với quân số khoảng 1,500 cán binh còn nguyên vẹn . Trung Đoàn 209 từ gần 2 tháng qua đã bị các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà bao vây đánh gần như tan nát tại vùng suối Tàu Ô, không rút chân ra được và cũng không thêm quân vào được. Riêng Trung Đoàn 141, một minh phải lãnh trách nhiệm tả xung hữu đột, nhất là khi lãnh trách nhiệm tấn công Đồi Gió, lại gặp phải lực lượng Dù Việt Nam Cộng Hoà phòng thủ, phải hao tốn hơn phân nửa quân số, và phải tức tốc rút về tái bổ sung. Như vậy Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt ước tính còn khoảng 3,500 cán binh, đang có mặt vùng phía Nam cạnh Quốc Lộ 13.

Về Lực Lượng Bạn: Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù với 2 Tiểu Đoàn 5 và 8 tạo vòng đai thép, 2 cây số phía Nam bên ngoài thành phố , tuyến phòng thủ thứ 2 do gần 2 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long và khoảng hơn một Đại Đội của Tiểu Đoàn 6 Dù, rút lui từ Đồi Gió về, thống nhất Chỉ Huy trên tuyến phòng thủ này, do một Sĩ Quan của Tiểu Đoàn 6 Dù . Tuyến phòng thủ thứ 3 do Đại Đội Trinh Sát của Lữ Đoàn 1 Dù bảo vệ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long. Mặt trận phía Nam được phòng thủ thật kín đáo, chia làm 3 vòng đai, có thể nói là bất khả xâm phạm.với gần 2,500 tay súng thiện nghệ, mà người đời đã tặng cho cái biệt danh Thiên Thần Mũ Đỏ (riêng gần 500 chiến sĩ Địa Phương Quân chiến đấu bên cạnh quân Dù, thì tinh thần chiến đấu cũng cao độ như quân Dù vậy, đó là quy luật chung của chiến trận chiến đấu theo màu cờ sắc áo)

Mặt trời mới vừa khuất bóng, Sư Đoàn 69 Pháocủa Cộng quân từ hướng Tây, các khẩu pháo binh 105 ly và 155 ly của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng quân chiếm được, từ hướng Đông phi trường Quản Lợi, đã mở trận mưa pháo tập trung vào căn cứ điểm quan trọng trong thị xã An Lộc như: Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (căn cứ cũ), Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, và chu vi vòng đai thị xã, mà Cộng quân nghĩ rắng đang có các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đang ghìm tay súng chờ đợi quân thù . Nặng nhất là trên tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà ở mặt phía Tây.

Sau 8 tiếng đồng hồ liên tục pháo kích với hơn 8,000 quả đạn đủ loại, quân Cộng Sản Bắc Việt cũng lại áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung (biển người) có chiến xa yểm trợ tấn công điên cuồng vào:

A- Tuyến phòng thủ phía Tây:

Về mặt phía Tây,Cộng quân xử dụng 2 trung đoàn bộ binh 271 và 95C, Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt,và 1 tiểu đoàn chiến xa hỗn hợp T.54 và PT.76 (khoảng 34 chiếc), sau 3 đợt tấn công, đã đánh xuyên thủng phòng tuyến của Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (tuyến này do 2 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà trấn thủ) khiến cho lực lượng của Trung Đoàn 7, phải lui dần về đến gần hầm chỉ huy của Tướng Hưng là cứ điểm cuối cùng.

Các chiến sĩ Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đã nhiều lần cận chiến với quân Cộng Sản Bắc Việt, đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch, và bắn cháy 6 chiến xa địch trước tuyến phòng thủ.

Tại Bộ Chỉ Huy của Tướng Hưng hiện giờ chỉ có 1 Đại Đội Trinh Sát 5 của Sư Đoàn (kiểm điểm lại tới giờ phút đó chỉ còn lại có khoảng không đầy 40 tay súng). Tướng Hưng hỏI vị Đại Đội Trưởng Trinh Sát là tại sao quân số còn ít quá như vậy ? Vị Đại Đội Trưởng thưa rằng,Binh sĩ nằm phòng thủ bảo vệ vòng ngoài với hầm hố dã chiến, pháo địch sát hại lần hồi !!! Tướng Hưng lại hỏi sao Anh không báo cáo ? Vị ĐạI Úy trả lời, báo cáo mà chẳng được bổ sung, lại gây cho Thiếu Tướng thêm lo và phân tâm trong việc điều khiển quân tình, nên Em đành phải cắn răng lặng thinh cho đến giờ này, Thiếu Tướng hỏi Em mới dám trình quân số lên Thiếu Tướng !!!

Căn cứ vào cường độ tấn kích của Cộng quân ,chĩa mũi dùi chính về phía Tây với lực lượng 2 trung đoàn bộ binh và chiến xa,( cho tới giờ phút này Cộng quân cũng chưa biết vị trí Bộ Chỉ Huy đầu não của Tướng Hưng nằm ở đâu ).

Trong tình thế cấp bách, Tướng Hưng gọi cho Đại Tá Trường, cần phải điều động quân về tăng cường cho Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn ngay tức khắc, Tướng Hưng cho biết: “tuyến của thằng 7 (Trung Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà) đã bị vỡ, địch đang trên đà chuyển dần đến hầm chỉ huy của tôi”. Đại Tá Trường cho điều động Đại Đội Trinh Sát 8, tức tốc kéo về hầm chỉ huy của Tướng Hưng, đồng thời tiếp tục cho điều động thêm 1 tiểu đoàn của Trung Đoàn 8 rút về tiếp ứng. Tiếp theo đó, Tướng Hưng gọi cho Đại Tá Lưỡng cho thiết kế lại tuyến phòng thủ phía Nam và rút ra liền 1 tiểu đoàn Dù, tức tốc di chuyển đến ngay Bộ Chỉ Huy Trung Ương chận đứng mũi dùi của địch đang tiến về hướng hầm chỉ huy, và gọi Trung Tá Biết đang trấn giữ mặt Đông,còn chưa bị tấn công,điều động ngay 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân về bảo vệ cho Bộ Chỉ Huy đầu não của Tướng Hưng.

Một lực lượng hỗn hợp gồm 3 tiểu đoàn: Bộ Binh, Dù và Biệt Động Quân đến kịp thời, và chặn đứng chiến xa và bộ binh địch, chỉ còn cách hầm Tướng Hưng khoảng 200 thước. Các chiến sĩ Bộ Binh, Dù và Biệt Động Quân cận chiến, quần thảo với quân địch cho tới trời hừng sáng, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đồng thời chận đứng được mũi dùi tấn kích của địch đang hướng về hầm chỉ huy của Tướng Hưng. Sau đó cùng nhau hợp đồng tác chiến, đẩy lui toàn bộ địch quân ra khỏi tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà khi trước ! Vòng đai thứ hai bảo vệ hầm Chỉ Huy của Tướng Hưng, vẫn do 2 Đại Đội Trinh sát 5 và 8 đảm trách .

Trong vài giây phút ngắn ngủi trên đầu giây điện thoại, Tướng Hưng căn dặn Đại Tá Trường, là nếu chẳng may Việt Cộng tràn được đến đây, tôi sẽ mở chốt lựu đạn cho nổ, chứ không để chúng nó bắt sống, còn anh thì gom quân lại, theo chân Trung Tá Huấn lui dần về phía Nam, nhập chung với Đại Tá Lưỡng,rút quân ra khỏi thành phố, vượt khỏi vòng vây về Lai Khê…

B- Tuyến phòng thủ phía Tây Bắc.

Cùng thời điểm đó, vào khoãng 9 giờ sáng, tại tuyến phòng thủ Tây Bắc, một lực lượng khác của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt (cấp 2 Trung Đoàn), được tăng cường khoảng 20 chiến xa T.54, mở nhiều đợt xung phong biển người, nhưng đều bị các chiến sĩ của Trung Đoàn 8 Việt Nam Cộng Hòa,đánh bật trở ra . Tổ chức lại đội ngũ, rồi cho xe tăng và bộ binh tấn công trở lại… Các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh quần thảo với Địch, được kéo dài cho đến 11 giờ trưa, quân Bạn được sự yểm trợ của các phi tuần phản lực Hoa Kỳ từ hai Hàng Không Mẫu Hạm đang đậu ngoài khơi biển Nam Hải .

Các loại súng cối 60 ly, 81 ly của các đơn vị Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà thi nhau tác xạ vào đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt đang dàn hàng ngang đông như kiến càng, đạn cối nổ ra, bung lên một lỗ, rồi tụ trở lại như thường. Còn phi cơ oanh tạc cũng như thế. Tại mặt trận, Đại Tá Trường luôn kêu gọi Tướng Hưng tiếp tục cho các phi tuần phản lực oanh kích liên tiếp, và đã đẩy được địch lui ra trên 1 cây số bên ngoài. Tưởng rằng địch đã chạy !!! Cho đến 11 giờ 30, địch lại tập trung tấn công lần nữa, lần này địch gom toàn bộ hơn 2,000 cán binh, và gần 20 chiến xa giăng hàng ngang từ từ tiến vào… Đại Tá Trường quan sát thấy tình hình như thế cảm thấy lo âu, báo cáo cho Tướng Hưng cấp thời

…Tướng Hưng trả lời cứ để cho tụi nó tiến, các anh thông báo cho tất cả binh sĩ chuẩn bị đừng ép ngực vào thành đất, và chờ đợi sẽ có Không Quân đồng minh đến yểm trợ trong vài phút nữa. (xin nhắc lại rằng đường giây điện thoại trong lúc này chỉ riêng Trung Đoàn 8 là còn sử dụng được, còn các đơn vị khác thì phảI dùng hệ thống vô tuyến với khoá nguỵ thảo mật mã cho từng đon vị).

Trên vùng trời trong sáng khoảng 11 giờ 45, các phản lực cơ được lệnh rời vùng, để lại cho mọi người một bầu không khí vô cùng ngột ngạt. Trong lúc quân địch tiến càng gần đến, 1,000 thước rồi 900 thước, thình lình trên bầu trời có tiếng rít gió nghe rợn ngươi, tưởng như tiếng âm hồn ma quỷ trổi lên đòi cướp linh hồn của các chiến sĩ. Sau tiếng rít gió là hàng loạt tiếng nổ chát chúa, kinh thiên động địa, khói bụi tung bay cả một vùng ngang 1 cây số dài 3 cây số, ngay chóc đội hình đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt đang trên đường tiến vào. Khi khói bụi tan dần, Đại Tá Trường cùng toàn thể chiến sĩ có mặt trên chiến tuyến nhìn lại không còn thấy vật gì tồn tại, kể cả xác của các chiến xa đã tung bay đi đâu hết, nhường lại trên mặt đất đầy rẫy những hố bom rộng hơn chiếc ao nuôi cá ở đồng quê Việt Nam. Đại Tá Trường, Trung Tá Huấn và tất cả các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà hiện diện trên chiến tuyến mặc dầu nhiều người bị tức ngực bởi sức ép của B52 oanh tạc, nhưng cũng đã thở ra được môt hơi dài nhẹ nhõm.

Không biết ở đâu mà có B52 bỏ bom đến kịp thời và đúng lúc như vậy ! Thông thường thì Quân Đoàn phải xin dự trù trước 48 giờ, và phải ghi rõ mục tiêu muốn đánh !! Trong trường hợp này mục tiêu lại xuất hiện bất thình lình, không ai biết trước được, dù rằng dự đoán đó có nghĩ ra được trước vài tiếng đồng hồ, cũng không đủ thời gian để Quân Đoàn yêu cầu B52 oanh tạc ngay lúc tình hình mặt trận đang hồi thật là gây cấn như lần này vậy !! (20)

Chú thích: (20) Nhật ký Hành Quân Quân Đoàn 3 nói về trận An Lộc năm 1972.

Nhờ Trời chăng? Người xưa có nói “Nhân Định Bất Thắng Thiên”, dịch ra tiếng bình dân nói là Người Tính Không Bằng Trời Tính.

Nguyên do có B52 oanh tạc rất là đúng lúc là vì: Trong ngày hôm đó tại Vùng II Chiến Thuật, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn John Paul Vann là người rất có quyền lực trong việc yêu cầu xin Không Quân Hoa Kỳ yểm trợ cho chiến trường Vùng II các phi vụ Không Quân Chiến Thuật cũng như Không Quân Chiến Lược B52. Vị cố vấn tài ba này đã hết lòng lo cho vận mệnh của Đất Nước Việt Nam và luôn luôn tận tâm trong chức vụ. Sau cùng ông cũng đã chết vì chức vụ của mình, trong đêm buồn thảm vùng đèo Chu Pao dọc theo Quốc Lộ 14. Tử nạn vì viên phi công mới của ông là Trung Úy Ronald Doughtie thiếu kinh nghiệm bay đêm đụng ngọn cây, gây tử thương cho một vị cố vấn Quân Đoàn kiệt xuất mà tất cả quân nhân các cấp Quân Đoàn 2/Quân Khu II cũng như dân chúng toàn vùng không bao giờ quên được những gì ông đã làm và mang lại cho chính nghĩa của Quân Dân Việt Nam Cộng Hoà khi ông còn sinh tiền. (xin đọc sách tựa đề “Sự Lừa Dối Hào Nhoáng, John Paul Vann và Nước Mỹ ở Việt Nam” của tác giả Neil Sheeman).

Tuy nhiên, về cái chết của cố vấn Vann, theo lời của hai nhân chứng còn sống là Trung Úy Nguyễn Văn Cai,(sĩ quan tuỳ viên) của cố vấn Vann đang cư ngụ tại Louisiana, Hoa Kỳ, và ông Lê Phát Được, đang cư ngụ tại Houston, TX, đã từng là thông dịch viên của cố vấn Vann, là hai người thường theo sát bên mình cố vấn Vann trong những lúc hành quân cũng như thanh tra diện địa, thuật lại về cái chết của ông cố vấn Vann là do trực thăng bị phát nổ khi ông Vann tự lái từ buổi dạ tiệc tại Pleiku trong đêm 09 tháng 06 năm 1972 bay về Kontum hẹn gặp với Tướng Lý Tòng Bá (Tướng Bá hiện đang cư ngụ tạI California) chứ không phảI là bị đụng ngọn cây như một vài sách báo đã viết. (21)

Chú thích: (21) Do các nhân chứng sống đã xác nhận: Trung Úy Nguyễn Văn Cai, Ông Lê Phát Được, và Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá.

Cố Vấn Vann đã xin 12 phi vụ B52 cho chiến trường Kontum,đến phi vụ thứ 9 là đã hoàn tất các mục tiêu oanh tạc trong Vùng II, còn thừa 3 phi vụ không cần thiết nữa, Cố Vấn Vann mới gọi về cho Bộ Tư Lệnh Mỹ MACV trung ương cho huỷ bỏ 3 phi vụ còn thừa lại, trong khi đó thì các pháo đài bay B52 đã cất cánh từ Guam đang trên đường bay qua Vùng II, Bộ Tư Lệnh MACV liền cấp tốc gọi xuống Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 cho Thiếu Tướng Hollingworth Cố Vấn Trưởng cho Tướng Minh kịp lúc trước 30 phút, và kịp liên lạc cho cả 3 phi vụ B52 trên đường bay thay đổi mục tiêu và toạ độ thả bom rất đúng lúc, và cả ba phi vụ B52 lần lượt thay phiên nhau trải thảm bom ngay trên đầu đoàn chiến xa và trên 2,000 quân bộ chiến Cộng Sản Bắc Việt đang tiến gần kề vào quân bạn, chỉ còn cách tuyến phòng thủ của quân bạn có 900 thước và các mục tiêu khác chung quanh chiến trường An Lộc.

C- Tại tuyến phòng thủ phía Đông

Sau khi hai trung đoàn 271 và 272 được rút về sáp nhập với đơn vị mẹ là Công Trường 9 ở phía Tây, lực lượng quân Cộng Sản Bắc Việt ở phía Đông chỉ còn lại Công Trường Bình Long què quặt, binh lính đa số là người gốc Miên, tinh thần chiến đấu lại sa sút trầm trọng, Công Trường Bình Long còn đảm trách thêm phần giữ an ninh Đồi Gió và Đồi 169 sau khi lực lượng chủ lực của Công Trường 9 và Công Trường 7 rút đi. Biết thế, Cục R cho lệnh rút Trung Đoàn Đồng Nai (Công Trường Bình Long) (quân số còn khoảng trên dưới 700) thay thế bằng Tiểu Đoàn Đặc Công của Cục R hoán đổi ra tuyến đầu, Tiểu Đoàn Đặc Công Cục R được tăng cường cho 5 chiến xa còn lại của Trung Đoàn 203 chiến xa, làm mũi nhọn tấn công thẳng hướng vào Bộ Chỉ Huy cũ của Tướng Hưng (gần ga xe lửa) và một mũi dùi khác đảm trách bởi trung đoàn còn lại của Công Trường Bình Long, nổ lực bên cánh phải.

Sau khi ngưng tiếng pháo vào khoảng 11 giờ đêm cùng ngày, bộ binh và chiến xa bắt đầu mở cuộc tấn công đồng loạt dọc theo tuyến phòng thủ của Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà, mạnh nhất là cánh trái tiểu đoàn đặc công Cục R và các chiến xa T.54 đã thành công xuyên thủng được một lỗ trên tuyến phòng thủ của Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà tận đến ngay vị trí Bộ Chỉ Huy cũ của Tướng Hưng trong đêm tối. Bọn chúng la inh ỏi hỏi nhau là tìm được Sư Trưởng của Sư 5 chưa, chúng chia nhau bới xới các bao cát cũng như các vỉ sắt, lục lọi cho đến trời sáng mà vẫn chưa tìm thấy Tướng Hưng đâu hết. Trời bắt đầu sáng, Cộng quân lộ nguyên hình trước các chiến sĩ Biệt Động Quân vài ba thước, là mục tiêu rất tốt làm bia cho các chiến sĩ Biệt Động Quân bắn hạ. Cả tiểu đoàn đặc công Cục R phải tháo chạy trở lui ra với sự thiệt hại nặng nề, còn các chiến xa T.54, trong đêm tối, ủi bừa vào trong dẫy phố sụp cống lay hoay cho tới trời sáng mà chẳng ngoi lên được.

Một câu chuyện do một nhân chứng sống Biệt Động Quân tên là Nguyễn Văn Xuân, Hạ Sĩ, kể lại như sau: Khoảng 8 giờ sáng, ngày 11 tháng 5 năm 1972, trên con đường ven ranh thành phố có 1 T.54 sụp cống, cứ hụ ga de lui tiến tới cả chục lần mà không ngoi lên được khỏi rãnh cống bên lề đường. Cuối cùng các cán binh CS phải mở nắp tháp chui ra ngoài quan sát và tìm cách cho xe ngoi lên, trong lúc loay hoay trước căn nhà 2 tầng cất bằng gỗ của gia đình một cụ già trên 70 tuổi, làng xóm thường gọi ông là Bác Sáu. Ông Sáu thấy tiếng động cơ xe tăng cú hụ lên hụ xuống cả mấy tiếng đồng hồ trước mặt nhà mình,cho đến trời đã sáng tỏ mà vẫn còn hụ. Đến khi trời sáng, ông Sáu mới lần mò ra trước ban công gỗ phía trước, cùng lúc đó ông thấy hai cán binh Cộng Sản đang cúi đầu xem cái xích sắt bị quấn kẻm gai và sụp cống,trong khi pháo tháp thì mở toang ra, nhìn trong xe dường như còn 1, 2 tên gì nữa cũng đang bận làm việc gì đó! Ông vội lui vào bên trong, kề tai nói nhỏ với ba chiến sĩ Biệt Động Quân đang ẩn núp trên căn lầu: các con ơi, xe tăng Việt Cộng đang sụp rãnh trước nhà mình mà lại mở nắp pháo tháp ngay gần trước mặt mình. Một chiến sĩ Biệt Động Quân định bò ra xem, ông Sáu cản lại: con mặc đồ rằn ri mà xuất hiện ló đầu ra ngoài,rủi tụi nó nhìn thấy được là chúng nó nổ súng liền. Ông Sáu đề nghị cậu nào có lựu đạn ? Một chiến sĩ Biệt Động Quân liền gỡ một quả lựu đạn M.26 đang đeo trên ngực, rút chốt và chỉ dẫn ông Sáu cầm chặt để tay sau lưng bước ra ngoài ban công run run giọng hỏi: các cháu cần gì không ? Cán binh Cộng Sản đứng bên dưới nhìn lên thấy một cụ già lụm khụm cũng không thèm trả lời. Ông Sáu bước ra thêm vài bước sát ban công và ngó xuống thấy 2 tên Cộng Sản đang lay hoay trước đầu xe… Nhìn thấy pháo tháp vẫn còn mở, ông Sáu liền bỏ nhẹ quả M.26 lọt ngay vào trong xe và vội lui ngay vào bên trong nhà, một tiếng nổ chát chúa và tiếp theo là nhiều tiếng nổ khác, rồi từng cụm khói đen bốc lên. Ông Sáu và 3 chiến sĩ Biệt Động Quân vội tụt xuống lầu ẩn núp rồi rút lui ra ngõ sau, lẩn mình vào các khu phố kế tiếp. Khi tiếng súng im lặng trở lại, ông Sáu lần mò về nhà, thấy xác chiến xa bị cháy đen vẫn còn nằm đó bên trong có vài khối thịt cháy đen xông lên mùi khó ngửi, mặt tiền căn nhà cửa ông Sáu cũng bị cháy nám một phần.

Tại mặt trận phía Đông, tiếng súng cũng từ từ im lặng. Biệt Động Quân đã quét sạch quân Cộng Sản Bắc Việt ra ngoài vị trí phòng thủ, chúng chạy về hướng phi trường Quản Lợi bỏ lại chiến địa trên 300 xác chết và ba chiến xa T.54 bị cháy.

Câu chuyện này chứng tỏ sự gắn bó giữa Dân và Quân Việt Nam Cộng Hoà, cùng sát cánh chống Cộng tới cùng.

D- Tại tuyến phòng thủ phía Nam và Tây Nam

Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt gồm có 3 trung đoàn bộ binh: trung đoàn 141, trung đoàn 165, và trung đoàn 209 được tăng cường 1 tiểu đoàn của trung đoàn chiến xa 203 (T.54 và PT 76) và sư đoàn pháo số 69 trực tiếp yểm trợ cho mặt trận phía Nam, âm thầm di chuyển về phía Nam từ lúc khởi đầu trận chiến.

Công Trường 7 vì nhu cầu chiến trận, bắt buộc phải xé lẻ sư đoàn ra làm 3 mảnh: trung đoàn 209 phải đóng chốt như du kích đánh lẻ tại vùng suối Tàu Ô, trung đoàn 165 thì ẩn trú trong các hầm đào sâu dưới đường rầy xe lửa cạnh Quốc Lộ 13 tạo thành những chốt ngầm rất kiên cố, còn trung đoàn 141, giỏi về cơ động tính tác chiến, nên được dùng làm lực lượng trừ bị nòng cốt cho sư đoàn, cả 2 trung đoàn 209 và 141 đều bị thiệt hại khá nặng nề. Sau khi tấn công xong Đồi Gió, trung đoàn 141 được lệnh rút trở về đơn vị mẹ Công Trường 7,để tái bổ sung và tái chỉnh đốn lại hàng ngũ. Và xuất quân cùng trung đoàn 165, đồng mở mũi dùi tấn công vào phía Tây Nam thành phố.

Sau khi dứt tiếng pháo, khoảng 12 giờ đêm ngày 11 tháng 5 năm 1972,Cộng quân chĩa mũi dùi tấn công vào tuyến của Tiểu Đoàn 8 Dù, đi đầu có 2 T.54 và 2 PT.76, vừa di chuyển vừa bắn như trâu điên. Có thể nói mũi dùi tấn công của thành phần Công Trường 7 từ hướng Nam cũng khá mạnh, nếu tại phía Nam mà do lực lượng Địa Phương Quân của Tiểu Khu với quân số 1 Đại Đội hay Tiểu Đoàn (-) thì không làm sao chịu nổi đà tấn kích của gần 2 Trung Đoàn Bộ Binh của Công Trường 7, Cộng Sản Bắc Việt, tuyến phòng thủ ắt phải vỡ tung. Nhưng xui cho Cộng quân, đụng phải thứ dữ,Tiểu Đoàn 8 Dù với khoảng trên 600 tay súng thiện chiến, phòng thủ có hầm hố kiên cố. 2 T.54 đi đầu bị các chiến sĩ Dù bắn cháy ngay đôi ba phút đầu, còn lại 2 PT.76 thì rồ ga chạy thoát thân lẩn trong rừng cao su, cố vấn Mỹ của Tiểu Đoàn 8 Dù cũng không buông tha, gọi Rồng Già AC.130 có đại bác 105 ly, thí cho mỗI chiếc PT.76 1 quả 105 ly bất động luôn, đoàn chiến xa nhiều chiếc phía sau không dám tiến lên nữa, liền tắt đèn pha, lẩn trốn trong bóng đêm, nhưng cũng không thoát khỏi mắt thần của các phi cơ AC.130 của không lực Hoa Kỳ lần hồi bắn cháy thêm hơn 14 chiếc. Còn bộ binh Cộng quân thì bị các chiến sĩ Dù bắn hạ không sót một tên khi tràn đến giao thông hào của lực lượng Dù, đến trời sáng tỏ, Cộng quân khi nhìn thấy rõ là đụng phải lính Dù thì mất hết tinh thần, vừa bắn trả vừa tháo lui rút chạy,không lấn thêm được một tấc dất nào hết. Tại mặt trận phía Nam này cũng yên tiếng súng sau vài giờ giao chiến .

Một tù binh cấp Tiểu Đoàn của Công Trường 7,được Tiểu Đoàn 8 Dù cứu sống, sau khi bị thương nằm rên la trên tuyến phòng thủ, được y tá của Tiểu Đoàn 8 Dù băng bó vết thương ở bụng cứu mạng, tiết lộ là: tất cả các cán binh Cộng Sản Bắc Việt, mỗi khi lâm chiến với Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà rất sợ B52 oanh tạc, vì bom rơi trên đầu từ trên cao rít gió đến bất thình lình, và sức tàn phá thật là kinh khủng san bằng tất cả,kể cả các loại chiến xa, không thứ gì chịu nổi bom của B52 hết, kế đến là sợ đụng phải đơn vị Nhảy Dù, lúc ban ngày, sẽ không thoát được một mống nào hết, bắn như để, kế đến là đụng với Biệt Cách Dù, như những bóng ma, khi ẩn khi hiện, nhất là về đêm, lỡ sơ xuất ngủ quên một chút,khi mở mắt ra là thấy Diêm Vương đứng ngay trước mặt.

Bây giờ cả ba thứ đó đều có mặt tại chiến trường An Lộc. Cộng Sản Bắc Việt thua là phải, bởi những ấn tượng trên.

Với cuộc tấn công lần thứ tư này, Cộng quân quyết tâm thanh toán mục tiêu – Thị Xã An Lộc – bằng mọi giá, nhưng rốt lại, suốt 3 đêm 2 ngày quần thảo với các lực lượng Việt Nam Cộng Hoà cũng đều bị đánh bật trở ra toàn bộ, để lại trên chiến địa hàng ngàn xác cán binh và thêm gần 40 T.54 và PT.76 bị chôn vùi dưới trận mưa bom của 3 box B52 và Rồng Già AC.130.

Sau đó, lực lượng quân Cộng Sản Bắc Việt rút trở ra ngoài, bổ sung thêm quân số, tái tổ chức lại hàng ngũ để chuẩn bị cho trận tấn công kế tiếp. Để tiếp tục duy trì áp lực, hàng ngày lẫn đêm Cộng quân vẫn tiếp tục pháo vào An Lộc gần 2,000 quả pháo đủ loại. (xem bản đồ số 8)

Tổng kết trong đợt tấn công lần thứ tư này, ta ghi nhận như sau:

Địch : Khoảng 2 trung đoàn bộ binh bị tiêu diệt, và khoảng trên 70% tiểu đoàn chiến xa của Trung Đoàn 203 bị bắn cháy hay bị chôn vùi dưới các trận oanh tạc của B52.

Bạn : Tính chung cho tất cả các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phòng thủ là gần 2 tiểu đoàn bị loại ra khỏi vòng chiến, nặng nhất là Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà chỉ còn lại có 1 đại đội.

Thường dân : Chết và bị thương chưa đến 100 vì nhờ vào hầm hố có nắp che và ở trong những căn nhà đúc bê tông.

2. BÌNH LUẬN

So sánh cường độ, sau 3 đợt tấn công của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt và Công Trường Bình Long, vào các tuyến phòng thủ phía Bắc và Phía Đông của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vẫn còn chưa quyết liệt bằng trận cường kích tấn chiếm lần THỨ TƯ nầy . Cả 2 Công Trường 9 và 7, được xem như là, đại đơn vị chính quy, thiện chiến nhất của Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt trong trận chiến, Công Trường 9 đảm trách tấn công tuyến phía Tây và Tây Bắc, tung toàn bộ Sư Đoàn cơ hữu,cộng thêm một trung đoàn hỗn hợp còn lại của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, đã thành công xuyên thủng tuyến phòng thủ phía Tây của Trung Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam, nhưng rất tiếc, bị lực lượng phản kích của Việt Nam Cộng Hòa kịp thời chận đứng và sau cùng bị đánh bật ra bên ngoài tuyến phòng thủ lúc ban đầu, để lại nhiều thiệt hại cả cán binh và chiến xa . Còn tuyến phòng thủ phía Tây Bắc,Cộng quân xua 2 Trung Đoàn bộ chiến, và trên 15 chiến xa,vào tuyến phòng thủ do 2 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa trấn thủ, cũng chẵng may bị B52 làm cỏ, trước khi được đặt chân vào đến chiến tuyến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa . Công Trường 7, đảm trách tấn công mặt phía Nam, mặc dầu đã cố gắng gom toàn lực tàn quân còn lại, để đánh ván bài liều, nhưng đụng phải lực lượng (khắc tinh) Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nên đành phải tháo chạy, để lại chiến địa hằng trăm cán binh tử vong, và trên 10 chiến xa bị quân dù và C.130 của không lực Hoa kỳ bắn cháy .

Trận chiến đến đây,có thể được xem như ngã ngũ, phần thắng lợi đang dần nghiên về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nói tóm lại, trong tất cả 5 đợt tấn công của quân Cộng Sản Bắc Việt vào Thành Phố An Lộc (Chiếu theo sự lượng định và nhận xét của Bản đúc kết quyển Sử Lược Chiến thắng An Lộc nầy), chỉ có HAI đợt tấn công chính: là đợt tấn công lần THỨ NHẤT, khởi diễn vào ngày 13 tháng 4 năm 1972, (do Công Trường 5 tại mặt phía BẮC và Công Trường Bình Long quân Cộng Sản Bắc Việt tại mặt trận phía ĐÔNG), và đợt tấn công lần THỨ TƯ, khởi diễn vào đêm 10 tháng 5 năm 1972, (do Công Trường 9, tại mặt phía TÂY và Công Trường 7 quân Cộng Sản Bắc Việt tại mặt phía Nam), là có tầm vóc quan trọng hơn tất cả các đợt tấn công khác .

Cả 2 đợt tấn công của quân Cộng sản Bắc Việt, vào những NGÀY, ĐÊM kể trên, chứng tỏ ý đồ của Cộng quân, cố quyết tâm san bằng và chiếm cho bằng được Thành Phố An Lộc, nhưng kết quả thực tế, dựa theo sử liệu ghi nhận, cho thấy Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt, bị thảm bại nặng nề, và buộc lòng phải rút lui ra khỏi trận chiến .
CHƯƠNG 8 – CUỘC TẤN CÔNG LẦN THỨ 5

(ngày 19 tháng 05 năm 1972)

1. DIỄN TIẾN

Nhằm kích động tinh thần các cán binh đang hồi tuột dốc thê thảm, Cục R ban hành nghị quyết ăn mừng sinh nhật Hồ Chí Minh nhằm ngày 19 tháng 05. Khởi đầu đêm 18 tháng 05 năm 1972,Cộng quân phải cố gắng kích động tinh thần các cán binh thêm một lần nữa, để may ra lấy chiến công làm quà tặng mừng sinh nhật cho Bác.

Cường độ của cuộc tấn công lần thứ 5, trông thấy giảm sút rõ rệt, về pháo cũng như về lực lượng bộ binh và chiến xa.

Về pháo: Pháo 130 ly và các giàn phóng hoả tiễn 107 và 122 ly đã bị các phi vụ B52 oanh tạc phá huỷ hơn phân nửa, nên chỉ còn pháo trong đợt này trên dưới 2,000 quả. Trung Đoàn 203 chiến xa (-) còn khoảng 45 chiếc T.54 và PT.76, đã bị lực lượng Dù bắn cháy hết 2 T.54 và AC.130 hạ thêm 8 chiếc đủ loại, mặc dù tắt đèn trốn chạy, Lực lượng Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà cũng hạ được 2 T.54. B52 oanh tạc chôn vùi khoảng 20 chiến xa T.54 và PT.76. Như vậy là đã đi đứt hết 80%. Còn bộ binh quân Cộng Sản Bắc Việt, chỉ còn lại mặt phía Tây, trách nhiệm của Công Trường 9 và mặt phía Nam trách nhiệm của Công Trường 7 (-), quân số của 2 Công Trường này đã hao hụt quá phần nửa. Vì thế, trong cuộc tấn công này, lực lượng Cộng quân chỉ còn có Công Trường 9 có mặt ở mặt phía Tây và Công Truờng 7 ở mặt phía Nam là có khả năng với tàn quân (khoảng ½ cán binh còn có thể tác chiến được mà thôi).

Đêm 18 tháng 5 năm 1972, Cộng quân cố gom tàn quân, cố gắng tấn công thêm một lần nữa để mừng ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh (19-05), nhưng đã bị không quân chiến lược và chiến thuật dập tan từ trong trứng nước: 1 box B52 dập ngay từ điểm tập trung của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt tại vùng 3 cây số Do đó, các công trường 9 lần này bị kiệt quệ hoàn toàn về bộ binh cũng như về chiến xa yểm trợ, còn Công Trường 7 thì lực lượng đã tiêu hao trên phân nữa, nên đành âm thầm rút lui ra khỏi trận chiến .

Tổn thất đôi bên: tính từ lần tấn công thứ nhất đến lần tấn công thứ năm

Địch :

a/ Về Bộ Binh : Hai trung đoàn bộ binh của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt + 2 Trung Đoàn của Công Trường Bình Long + 2 Trung Đoàn của Công Trường 9 Cộng + 2 Trung Đoàn của Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt và 1 Tiểu Đoàn Đặc công của Cục R bị loại khỏi vòng chiến, tổn thất đến 70% quân số,

b/ Về Thiết Giáp: Trung Đoàn chiến xa hỗn hợp T.54 và PT.76 + trung đoàn thiết giáp phòng không di động bị thiệt hại 80%, + hai vị trí pháo binh dã chiến 130 ly + 2 vị trí các dàn phóng hoả tiễn 122 và 107 ly bị B52 oanh tạc chôn vùi.

Chiếu theo một tài liệu của Hoa Kỳ được kiểm chứng, số cán binh CS có từ 35 đến 37 ngàn quân bộ chiến được tung vào chiến trận, ngoài ra sau những tổn thất của các đợt tấn công, Cộng quân còn được bồ sung thêm 15,000 quân, nâng tổng số quân bộ chiến của Cộng Sản Bắc Việt từ 50 đến 52 ngàn quân trong trận chiến tại Mặt Trận An Lộc nầy.

Bạn:

Trung Đoàn 8 + Trung Đoàn 7 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà + Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân + Lực Lượng Tiểu Khu Bình Long: mổi đơn vị tổn thất khoảng 50% quân số, + Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tổn thất khoảng 35% quân số, riêng chỉ có Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là bị thiệt hại ít nhất, với 68/550 quân nhân các cấp, khoảng hơn 8%, toàn bộ Tiểu Đoàn 53 Pháo Binh + Pháo Đội Dù của Lữ Đoàn 1 Dù bị pháo của Cộng quân phá hủy.

2. BÌNH LUẬN, MẶT TRẬN AN LỘC SAU 5 ĐỢT TẤN CÔNG
(HƯỚNG ĐÔNG, TÂY, TẤY NAM, NAM, BẮC, TÂY BẮC)

A- Về chiến thuật:

Cộng quân áp dụng chiến thuật “Bịt Pháo Công Đồn” Pháo tiêu diệt Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đồn trú trong Thị Xã An Lộc và Pháo Đội Sơn Pháo Dù trên cao điểm Đồi Gió, có nghĩa là khi mở màn cuộc tấn công, phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà không còn pháo binh yểm trợ quân bạn. Để bù lại, Không Quân Chiến Thuật (trực thăng võ trang Cobra, oanh tạc cơ Phantom, Rồng Già AC.130 và Không Quân Chiến Lược B52 của Hoa Kỳ), đã tiêu diệt gần 2/3 quân số và chiến cụ của quân Cộng Sản Bắc Việt.

Cộng quân áp dụng chiến thuật “ Biển Người ” còn được gọi là nướng người của Võ Nguyên Giáp, tướng chỉ huy cả ba mặt trận của chiến dịch Đông Xuân (Mùa Hè Đỏ Lửa). Tướng Giáp đã sao y chiến thuật biển người của Trung Cộng trong trận Điện Biên Phủ 18 năm về trước (1954). Khi đó lực lượng Không Quân của Quân Đội Pháp còn chưa đủ hiệu quả để ngăn chận địch quân, các binh sĩ của Pháp và các sắc lính khác, còn chưa được trang bị đủ Tinh Thần, cũng như vũ khí còn thô sơ và không quen với lối đánh táo bạo biển người của quân Cộng Sản. Do đó Tướng thủ thành của Pháp là De Castries mới bị bắt sống. Còn đối với An Lộc năm 1972 mặc dù hoả lực pháo binh của Việt Nam Cộng Hoà bị khống chế, bởi đại pháo tầm xa 130 ly và hoả tiễn 122 ly +107 ly, bù lại có không quân Hoa Kỳ yểm trợ tối đa với các pháo đài bay B52 là loại khắc tinh của chiến thuật biển người. Phụ thêm vào đó các trực thăng võ trang Cobra có trang bị nhiều đại liên nồi tự động bắn liên hồi hàng trăm viên đạn trong 1 phút,các giàn phóng hỏa tiễn được tác xạ một cách rất là chính xác, và các Phantom F4, oanh tạc dội bom 500 cân Anh. Lợi hại nhất là các AC.130 có thiết trí đại bác 105 ly được điều chỉnh bằng radar (hồng ngoại tuyến) để diệt chiến xa địch,bách phát bách trúng, và một số đại liên 40 ly tự động đã gây kinh hoàng cho quân Cộng Sản Bắc Việt. Còn về các chiến sĩ phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà thì đã quen với lối đánh này của quân Cộng Sản, nghĩa là khi bị pháo thì núp xuống hầm, khi vừa dứt tiếng pháo, thì chắc ăn như bắp là bộ binh địch đang theo đó mà tấn công vào. Như vậy là đứng lên để tác xạ, với đủ loại vũ khí tự động tối tân như súng trường M.16, đại liên M.60, và súng phóng lựu M.79, đặc biệt là súng chống chiến xa M.72 . Sau cùng là con chim đầu đàn, Tướng Lê Văn Hưng cùng tất cả các chiến hữu của các quân binh chủng tham chiến,kể cả dân trong thành phố An Lộc đã quyết tâm sống chết với quân thù.

Cộng quân còn áp dụng “nhị thức chiến xa và bộ binh” phối hợp để tấn công vào thành phố nhỏ hẹp An Lộc. Đây là lần đầu tiên quân Cộng Sản Bắc Việt xử dụng chiến xa trên chiến trường Miền Nam, nên giữa bộ binh tùng thiết và chiến xa không có sự đồng nhất phối hợp hổ tương cho nhau . Đặc biệt trong trận tấn công đầu tiên, vào ngày 13 tháng 04 năm 1972, khi bị lọt vào trận địa pháo của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Cộng quân mới nhận biết là An Lộc vẫn còn chống cự mãnh liệt, trái với nguồn tin của cấp chỉ huy mình là An Lộc đã được giải phóng .

B- Về quân số đôi bên vào thời điểm cao và đầy đủ:

1 Việt Nam Cộng Hoà (tử thủ) chống 6 Cộng Sản Bắc Việt.

Địch : 4 sư đoàn (công trường) 5, 7, 9 và Bình Long, khoảng 35 đến 37 ngàn cộng 15 ngàn quân số bổ sung thêm, tổng cộng khoảng 52 ngàn cán binh.

Bạn: Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (-): Trung Đoàn 7, Trung Đoàn 8, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, và khoảng 500 chiến sĩ còn lại của Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Chiến Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, lực lượng Tiểu Khu Bình Long, tổng cộng 8,650 chiến sĩ.

C- Yếu tố tâm lý: thật sự đóng một vai trò quan trọng trong mọi lãnh vực của đời sống con người và liên quan đến sự thành bại của một trận chiến.

Cộng quân đánh giá sai lầm về sức đề kháng chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Họ đã chiến đấu một cách dũng mãnh trong suốt các mặt trận từ trận Lộc Ninh đến trận Cầu Cần Lê đến mặt trận phía Bắc An Lộc của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà .

Điểm tâm lý của Cộng quân lúc ban đầu, nghĩ rằng với chiến thuật tiền pháo (mưa pháo) hậu xung (biển người) cộng thêm hàng trăm chiến xa tối tân T.54 và PT.76 của Nga viện trợ, sẽ áp đảo được tinh thần và đánh tan được quân phòng thủ ngay trận đầu tay, vào sáng ngày 13 tháng 04 năm 1972. Nhưng trên thực tế thì trái ngược lại, vì một lỗi lầm quan trọng, không có sự phối hợp giữa bộ binh và chiến xa,

Để Chiến Xa di chuyển một mình, đưa lưng cho các tổ chống chiến xa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, xử dụng súng phóng hỏa tiễn cầm tay M.72, dễ dàng bắn hạ . Từ chỗ đó, tinh thần sợ sệt chiến xa địch trong lòng các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà không còn nữa. Vả lại tinh thần ham muốn lùng và diệt tăng địch đã tức tốc gia tăng theo cường độ lũy tiến, trong hầu hết các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đang tử thủ. Đó là một trong những nguyên nhân chánh yếu khiến cho quân xâm lăng Cộng Sản Bắc Việt phải chịu thảm bại trong trận chiến An Lộc nầy.

Điểm tâm lý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khi nhất quyết tử thủ dựa vào những nhận định như sau:

1- từ phía Nam còn có đoàn quân tiếp viện ngày càng đến gần điểm hẹn (toàn bộ Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh của Quân Đoàn 4).

2- các lực lượng thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù còn đang đươc trực thăng vận đổ vào chiến trường, để cứu nguy và tiếp hơi lực lượng tử thủ.

3- trên vòm trời An Lộc cả ngày lẫn đêm đều có các trực thăng võ trang, các phản lực cơ tối tân Phantom F4, các AC.130, các pháo đài bay B52 của Không Lực Hoa Kỳ xuất hiện liên hồi, oanh kích và oanh tạc các đơn vị và vị trí pháo binh, cũng như các kho dự trữ đạn dược của Cộng quân.

4- trên bầu trời An Lộc vẫn còn nhận thấy những cánh hoa dù tiếp tế, tràn ngập lương thực vũ khí đạn dược và thuốc men. Có nghĩa là chiến đấu tử thủ không lẻ loi một mình, và sau cùng là nhận thấy cái gương hơn 1 triệu đồng bào Miền Bắc đã phải rời bỏ địa ngục trần gian để trốn chạy Cộng Sản vào Nam (hiệp định Genève năm 1954), và trận Tết Mậu Thân năm 1968. Cộng Sản đã sát hại và chôn sống hàng chục ngàn quân dân cán chính của Tỉnh Thừa Thiên (Cố Đô Huế của Việt Nam Cộng Hoà).

Bây giờ nếu để mất An Lộc thì Cộng quân sẽ tràn vào đến tận Thủ Đô Sài Gòn, và những vùng kế tiếp,trong đó có những gia đình của tất cả các chiến sĩ tử thủ cũng như của các chiến sĩ đang tăng cường tiếp viện. Một con số thiệt hại do sự tàn sát của chế độ Cộng Sản tại Miền Nam Việt Nam, sẽ còn gấp nhiêu lần hơn năm 1954 và 1968.

Từ Tướng Tư Lệnh Chiến Trường Nguyễn Văn Minh, Tướng Tư Lệnh Mặt Trận Lê Văn Hưng, cho đến các vị Lữ Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng, Tiểu Khu Trưởng, càc Sĩ Quan Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Đội Trưởng, Liên Toán Trưởng, Trung Đội Trưởng, các cấp hạ sĩ quan Tiểu Đội Trưởng cho đến từng binh sĩ của các đơn vị tham chiến và toàn thể trên 8 ngàn dân chúng Tỉnh Bình Long, tất cả đều mang tâm tư quyết tâm tử thủ, không rút lui hay bỏ chạy dù rằng Cộng quân có giả vờ bỏ ngỏ phía Nam đi chăng nữa. Thà chết bây giờ chết vinh quang nơi trận chiến còn hơn phải chịu chết vì tủi nhục trong gông cùm hay bị chôn sống trong tương lai dưới chế độ sắt máu của quân thù Cộng Sản, nếu không may có tử trận nơi sa trường bây giờ, cũng là để đổi lấy tự do no ấm cho con cháu trong tương lai vậy.

Advertisements