CT.An Lộc 1972-Phần II

chienxat54

CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 – Phần 2
CHƯƠNG 5 – MỞ ĐẦU TRẬN CHIẾN AN LỘC

Tất cả các cánh quân của quân đoàn Cộng Sản Bắc Việt đều dồn về An Lộc; Công Trường 5 từ mặt Bắc đánh xuống, Công Trường 9 và Công Trường Bình Long ép hai mặt Tây Đông. Công Trường 7 vừa chặn mặt Nam để lập các “chốt khoá” trên Quốc Lộ 13, vừa tung quân đánh các mục tiêu sát biên giới Tây Ninh và Bình Long như căn cứ Tống Lê Chân, để tạo thêm áp lực cho phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Quân trú phòng không “tăng” mà cũng không “pháo”, còn phải đối đầu với một quân số đông hơn gấp nhiều lần, với hàng trăm chiến xa và Sư Đoàn pháo đủ loại. Toàn bộ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hoà, gồm ba Tiểu Đoàn 5, 6, 8 và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được trực thăng vận đến tăng viện. Toàn bộ Sư Đoàn 21 Bộ Binh cùng với Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 Bộ Binh, từ vùng sình lầy miền Tây cũ được bốc lên Lai Khê, để khai thông Quốc Lộ 13 hướng về An Lộc .

1. MẶT TRẬN AN LỘC:
CUỘC BAO VÂY VÀ CÁC ĐỢT PHÁO KÍCH, TẤN CÔNG TÀN KHỐC CỦA CỘNG QUÂN, VÀO CÁC MẶT: ĐÔNG, TÂY, NAM, BẮC CỦA TỈNH LỴ BÌNH LONG.

Sau khi căn cứ hoả lực Cầu Cần Lê rút lui, toàn bộ mặt phía Bắc An Lộc bị bỏ trống, vòng đai phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà lần lần bị thu hẹp về trong chu vi Thị Trấn An Lộc, Tướng Lê Văn Hưng đã nhận biết địch quân đang di chuyển quân bủa vây tứ phía

• Mặt phía Bắc đang bị áp lực của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt,
• Mặt phía Đông đang bị áp lực của Công Trường Bình Long,
• Mặt phía Tây bị áp lực của Công Trường 9
• Mặt phía Nam, có Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt

Riêng mặt phía Nam, mặc dù chưa trực tiếp nổ súng vào Thị Xã An Lộc, nhưng căn cứ vào sự chạm trán giữa đoàn quân giải toả, (giai đoạn đầu ) của Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và cái chết của Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5, tại vùng Chơn Thành (Tàu Ô) đã chứng minh cho biết về phía Nam Thị Xã An Lộc, cũng đã có đơn vị cấp Sư Đoàn của địch đang tổ chức phục kích và chận viện.

Tướng Hưng nhận thấy lực lượng địch đã bủa vây bằng những đơn vị lớn cấp quân đoàn . Trong khi phía lực lượng phòng thủ chỉ mới có :

Bộ Chỉ Huy Hành Quân Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà do Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn, trực tiếp chỉ huy toán cố vấn Mỹ + Đại Đội 5 Trinh Sát đang trú đóng tại An Lộc.

Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, vừa được lệnh của Quân Đoàn 3/Quân Khu III trực thăng vận cấp tốc xuống An Lộc, ngay trong buổi chiều ngày 06 và suốt ngày 07 tháng 04 năm 1972 .

Tổng cộng chỉ mới có 6 Tiểu Đoàn và 1 Đại Đội Trinh Sát của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, khoảng 3, 500 tay súng quân chủ lực, và khoảng gần 700 quân thuộc lực lượng của Tiểu Khu Bình Long . So sánh tương quan lực lượng đôi bên thì là 1 chống 8. Còn chiếu theo bản điều nghiên trận địa của địch lúc bấy giờ, chỉ có Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà cộng thêm Trung Đoàn 7 Bộ Binh, và nhiều lắm là 2 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long.

Vì tương quan lực lượng đôi bên tại mặt trận An Lộc quá chênh lệch, căn cứ theo bản điều nghiên trận liệt của địch, trong lúc thiết kế tấn công, nên Trung Ương Đảng Bộ Cộng Sản Hà Nội, tưởng là dễ nuốt, và đã huênh hoang tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội, cũng như ra lệnh cho thuộc cấp, phải chiếm cho bằng được An Lộc, trước ngày 20 tháng 04 năm 1972.

Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân có 3 Tiểu Đoàn : 31, 36, và 52, đang bố trí phòng thủ trên 1 tuyến dài trên 4 cây số, từ phía Bắc đến phía Đông, Trung Đoàn 7 Bộ Binh chỉ còn 2 Tiểu Đoàn nguyên vẹn và 1 Tiểu Đoàn đã thất thoát đến 1/2 quân số trong những ngày đầu giao tranh với Công Trường Bình Long, và một thành phần của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt tại khu phía Đông (phi trường Quản Lợi), đang bố trí phòng thủ phía Tây, các tiểu đoàn và đại đội Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long đã bị hao hụt nhiều trong những lần giao chiến sơ khởi tại Đồi Đồng Long, sân bay L19, nhất là tại phi trường Quản Lợi, có trách nhiệm phòng thủ mặt Nam, đầy mệt mỏi và không có bồ sung.

Trong suốt tuần lễ từ 06 đến 12 tháng 04 năm 1972, Cộng Quân đã gửi tiền sát viên Pháo Binh, xâm nhập những cao thế xung quanh Tỉnh Lỵ, để quan sát và điều chỉnh các toạ độ pháo binh, như Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 (cũ), nhưng Tướng Hưng và Bộ Chỉ Huy Hành Quân đã di chuyển đến căn cứ Đỗ Cao Trí vào giờ phút chót, Cộng Quân hoàn toàn không hay biết, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, các bãi đáp trực thăng, bệnh viện, Nhà Thờ, Chùa, Sân Vận Động Tỉnh, v.v… mỗi nơi đều bị pháo vài quả để điều chỉnh toạ độ.

Nhận thấy lực lượng Quân Phòng Thủ còn quá yếu so với Quân Địch, Tướng Hưng liền điện về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 xin thêm quân tăng viện cấp thời trước khi Cộng Quân mở màn trận chiến trong thời gian rất gần kề, đơn vị được Tướng Hưng xin tăng viện đích danh là Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh cơ hữu, do Đại Tá Mạch Văn Truờng chỉ huy, vừa mới được bổ sung và chấn chỉnh đội ngũ, là Trung Đoàn duy nhất còn lại của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đang đóng quân tại cứ điểm Dầu Tiếng (đồn điền Michelin cũ của Pháp), thuộc Quận Trị Tâm, đang có trách nhiệm ngăn chận sự xâm nhập của địch quân từ biên giới Việt Miên theo hành lang Sông Sài Gòn tiến vào tỉnh Bình Dương. Ngay sau đó Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà được tức tốc trực thăng vận vào ngay trận địa An Lộc, hoàn tất vào trưa ngày 12 tháng 04 năm 1972. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn cùng với 2 Tiểu Đoàn Bộ Binh được trực thăng vận đổ xuống An Lộc trước tại những khoảng trống không mấy thích hợp cho cuộc đổ quân trực thăng vận vào ngày 11 tháng 04 và tiếp theo ngày 12 tháng 04 đổ tiếp thêm 1 Tiểu Đoàn Bộ Binh và Đại Đội 8 Trinh Sát Trung Đoàn. Đến hết ngày 12 tháng 04 năm 1972, lực lượng phòng thủ được tăng thêm gần 3,000 quân (2,500 quân của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh, 100 quân thất lạc di chuyển lẻ tẻ từ Lộc Ninh về, còn lại là số chiến binh của Chiến Đoàn 52 (-) Sư Đoàn 18 Bộ Binh).

Cả Trung Đoàn 8 Bộ Binh đổ quân đợt 1 và đợt 2, đều được Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà khuyến cáo khi di chuyển đến tuyến chiến đấu (phòng ngự), phải ôm dọc theo vòng đai bên ngoài thị xã từ Nam lên Bắc để tránh thiệt hại do pháo địch đang bắn điều chỉnh vào bên trong thị xã.

Như vậy là toàn bộ 2 trung đoàn cơ hữu còn lại của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đã có mặt tại chiến trường An Lộc vào ngày 12 tháng 04 năm 1972. (Trung Đoàn 9 đã bị tan rã sau Trận Lộc Ninh).

Trung Đoàn 7 được điều động vào An Lộc trước ngày chiến trận bộc phát ít hôm. Tiểu Đoàn 3/7 được chỉ định tăng cường căn cứ hoả lực vùng phi trường Quản Lợi, 5 cây số Đông An Lộc, tiểu đoàn này đã bị thiệt hại đến hai đại đội, Tiểu Đoàn Trưởng bị tử trận, cho nên Tiểu Đoàn 3/7 phải rời bỏ vùng phía Đông rút trở về bên trong thị xã, bỏ lại trọn vẹn vùng phi trường Quản Lợi. Trung Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà tham chiến được vào khoảng 1,500 binh sĩ do Trung Tá Nguyễn Đức Quân làm Trung Đoàn Trưởng trấn giữ mặt phía Tây.

Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà được giao phó trách nhiệm trấn giữ mặt chính Bắc và một phần phía Tây, còn Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân được thu ngắn bớt tuyến phòng thủ giữ một phần ngắn phía Bắc, và trọn phần tuyến giới phía Đông.

Như vậy, mỗi mặt Đông, Tây, Nam, Bắc đều có một lực lượng cỡ gần cấp Trung Đoàn trấn giữ, mạnh nhất là Trung Đoàn 8 Bộ Binh, ở mặt trận phía Bắc, với 2,500 quân phòng thủ, trên trận tuyến dài gần 2 cây số vòng đai Tình Lỵ. Yếu nhất là măt phía Nam của Tiểu Khu Bình Long.

Đúng như dự liệu của Tướng Hưng, mặt trận phía Bắc sẽ bị Cộng Quân cường kích mạnh nhất khi mở màn trận chiến (xem bản đồ số 4).

2. CUỘC ĐIỆN ĐÀM GIỮA TƯỚNG MINH VÀ TƯỚNG HƯNG VỀ BIỆN PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI QUÂN ĐỊCH

Chiếu theo tin tình báo từ các toán Viễn Thám Việt Nam Cộng Hoà, và một cán binh hồi chánh, của Đại Đội Trinh Sát Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, từ đầu tháng 01 năm 1972 đến cuối tháng 03 năm 1972 báo cáo như sau:

Công Trường 7, tập trung quân trong vùng thị trấn Snoul (Cambodia) cách Lộc Ninh 30 cây số dọc theo Quốc Lộ 13 về phía Bắc đang di chuyển về phía Tây, Công Trường 9, Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt và một đơn vị cấp Sư Đoàn đang tập trung quân trong các căn cứ địa vùng giáp ranh lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà sát biên giới Việt Miên. Như vậy, địch đang tập trung quân dọc theo biên giới vùng phía Bắc của lãnh thổ Quân Khu III Việt Nam Cộng Hoà đến 4 Sư Đoàn, và nguồn tin sau cùng do các chiến sĩ Sư Đoàn 25 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà tại vùng Tỉnh Tây Ninh tìm thấy trên xác của một cán binh Cộng Sản Bắc Việt (không rõ cấp bực) trực thuộc Trung Đoàn 271 Công Trường 9, một công điện chỉ thị cho Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt phải điều động tới vùng Lưỡi Câu (phía Tây Bắc An Lộc trước ngày 24 tháng 03 năm 1972) để tham dự vào nỗ lực của Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt phối hợp với Công Trường Bình Long và Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt cùng tấn công An Lộc.

Khi mặt trận Lộc Ninh vừa mới bắt đầu, với sự tan rã nhanh chóng của Đại Đội 9 Trinh Sát Trung Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, vào chiều ngày 04 tháng 04 năm 1972 và của Thiết Đoàn 1 (-) Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà vào đêm 04 rạng 05 tháng 04 năm 1972, Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 3/Quân Khu III đã lượng định, địch đã tung vào chiến trường đến 4 Sư Đoàn Bộ Binh, chưa kể Pháo Binh và Thiết Giáp…(như vậy là địch đã xử dụng cấp Quân Đoàn cộng cho trận chiến này !!).

Vì đã có nguồn tin tình báo khả tín như thế, nên khi vừa mới nghe điện thoại cũa Tướng Hưng, gọi về từ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đang đóng tại Lai Khê, tiếp chuyện với Tướng Minh đang kinh lý tại Tiểu Khu Bình Dương, trình tình hình chiến trận Lộc Ninh (Cộng Quân đánh tan quân bạn một cách nhanh chóng và bất ngờ…)

Sau khi Tướng Hưng báo cáo tình hình xong và đề nghị :

– Tôi sẽ lấy trực thăng bay lên Lộc Ninh để quan sát tình hình

Tướng Minh trả lời :

– Không còn kịp nữa .

Tướng Minh nói tiếp :

– Sau Lộc Nình là chúng nó tiến đánh An Lộc đó !!! Vậy Anh nên dùng thời gian còn lại di chuyển tức khắc Bộ Chỉ Huy Nặng Sư Đoàn lên An Lộc càng sớm càng tốt. Quân Đoàn sẽ cung cấp trực thăng đủ cho nhu cầu di chuyển Bộ Chỉ Huy Nặng Sư Đoàn, đồng thời tôi sẽ cho bốc Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ Tây Ninh thẳng về An Lộc cho anh.

Cuộc điện đàm chấm dứt vào lúc 1 giờ 30 trưa ngày 06 tháng 04 năm 1972. Tướng Hưng liền cho lệnh toàn bộ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn và thông báo với Toán Cố Vấn Mỹ chuẩn bị di chuyển lên Bộ Chỉ Huy Tiền Phương do Đại Tá Lê Nguyên Vỹ đang chỉ huy tại An Lộc.

Sau cuộc điện đàm với Tướng Hưng, Trung Tướng Minh chỉ thị Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân, gọi về Tổng Hành Dinh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, đóng tại Tỉnh Biên Hoà, cho triệu tập phiên họp bất thường Bộ Tham Mưu Cao Cấp Quân Đoàn. Khi trực thăng của Tướng Minh về đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, thì tại phòng họp của Quân Đoàn đã có mặt các giới chức quan trọng như Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng, Sĩ Quan Trưởng Phòng Nhì, Sĩ Quan Trưởng Phòng Ba, Trưởng Phòng 4, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn, Đại Tá Trương Hửu Đức, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, đã chờ sẵn tại phòng họp cạnh văn phòng Tư Lệnh. để thảo luận và lãnh chỉ thị thi hành : (* Dồn hết nỗ lực ưu tiên trực thăng vận Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ Tây Ninh đổ thẳng vào An Lộc * Khai thông cấp thời Quốc Lộ 13 * Tiếp tế cho Chiến Trường An Lộc ).

Trong khi trực thăng vận Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân đến An Lộc, Tướng Minh nhận xét, lực lượng phòng thủ vẫn còn quá yếu, nên Ông khẩn điện về Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, xin thêm lực lượng Tổng Trừ Bị còn lại của Bộ Tổng Tham Mưu.

Nói về Lực Lượng Tổng Trừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hoà chỉ còn lại Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù (Sư Đoàn Dù (-) đã di chuyển ra giới tuyến cùng với nguyên Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến ở ải địa đầu Quảng Trị), và Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù đang còn hoạt động viễn thám trong vùng Tỉnh Tây Ninh.

Với quyền hạn của vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Đại Tướng CAO VĂN VIÊN chỉ có thể chấp thuận theo lời yêu cầu của Quân Khu 3, tăng cường cho Quân Khu 3 Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù và ra lệnh cho rút tất cả các Toán, gom lại thành những Đại Đội, tập trung về phi trường Trảng Lớn (Tây Ninh), chờ trực thăng vận, di chuyễn đến chiến trường mới. Đây là lần đầu tiên anh em Biệt Kích Dù mới có dịp tương phùng 4 Đại Đội và 4 toán Trinh Sát, về cùng một lúc, tay bắt mặt mừng, dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi chờ Trực Thăng bốc về Lai Khê (Tỉnh Bình Dương ) .

Riêng Lữ Đoàn 1 Dù đang trách nhiệm giữ an ninh cho Dinh Độc Lập, còn phải chờ lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Vài giờ sau đó, sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên trình với Tổng Thống Thiệu, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù cũng được điều động đến Lai Khê ngay sau đó, và được Bộ Tư Lệnh Hành Quân Quân Đoàn 3 chỉ định cùng với Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Đại Tá LÊ MINH ĐẢO vừa mới nhậm chức Tư Lệnh Sư Đoàn, trong tay chỉ còn đúng có một Trung Đoàn cơ hữu, đang ì ạch khai thông Quốc Lộ 13 từ Lai Khê đến Quân Chân Thành (giai đoạn đầu). Để trám vào chỗ Lữ Đoàn 1 Dù, Sư Đoàn 18 Bộ Binh, điều động Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh đến thay thế chổ Liên Đoàn 1 Dù vừa mới rút đi, để giữ an ninh cho Dinh Độc Lập. (8)

Chú Thích: (8) Nhật Ký Hành Quân của Quân Đoàn 3/Quân Khu III ghi về trận chiến An Lộc năm 1972

Lực Lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà giờ này chỉ còn lại có Quân Đoàn 4 là còn nguyên vẹn 3 Sư Đoàn : Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, hoạt động riêng rẽ trong vùng trách nhiệm, Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà hoạt động riêng rẽ trong vùng trách nhiệm và Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, cũng phải lo việc bảo vệ lãnh thổ và đương đầu với một đơn vị cấp Sư Đoàn của địch trong vùng rừng U Minh thuộc các Tỉnh Cà Mau, Rạch Giá và Chương Thiện. Tính đi tính lại Quân Đoàn 4 Quân Khu IV do Trung Tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG làm Tư Lệnh cố gắng chia xẻ những khó khăn của Quân Khu I, Quân Khu II, và nhất là Quân Khu III tối đa có thể rút ra 1 Sư Đoàn và một Trung Đoàn mà thôi, các đơn vị này là thành phần ưu tú nhất của Quân Đoàn 4, đó là trọn vẹn Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà do Thiếu Tướng NGUYỄN VĨNH NGHI làm Tư Lệnh. Và Trung Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà do Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy (Trung Tá Cẩn là một trong NGŨ HỔ TƯỚNG của Sư Đoàn 21 Bộ Binh, khi Trung Tướng Minh còn là Chuẩn Tướng, Tư Lệnh Sư Đoàn 2! Bộ Binh).

Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đã được Quân Khu I do Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm làm Tư Lệnh xin thẳng với Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU từ tuần trước .

3. CUỘC HỌP HỘI ĐỒNG AN NINH QUỐC GIA TẠI PHỦ TỔNG THỐNG

Ngày 09 tháng 04 năm 1972, cả 4 Tư Lệnh Vùng đều được Tổng Thống Thiệu triệu hồi về Dinh Độc Lập để trình bày tình hình chiến sự. Cuộc họp quan trọng này gồm có : Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU (Tổng Tư Lệnh Quân Đội), Đại Tướng TRẦN THIỆN KHIÊM (Thủ Tướng Chính Phủ kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng), Đại Tướng CAO VĂN VIÊN (Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà), Trung Tướng ĐẶNG VĂN QUANG (Cố Vấn An Ninh Phủ Tổng Thống) và 4 vị Trung Tướng Tư Lệnh 4 Vùng Chiến Thuật.

Trung Tướng NGUYÊN VĂN MINH, Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III, thuyết trình đầu tiên trước HỘI ĐỒNG AN NINH QUỐC GIA:

Về tình hình địch, hiện có 4 Sư Đoàn, âm mưu dứt điểm An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972 và trên đà tiến thẳng đến Sài-Gòn, Thủ Đô Sài Gòn sẽ là mục tiêu cuối cùng của quân Cộng Sản Bắc Việt. Về Lực Lượng Bạn Quận Đoàn III, có 3 Sư Đoàn, gồm :

– Sư Đoàn 5 do Tướng Lê Văn Hưng chỉ huy, đang có mặt tại An Lộc từ ngày 07 tháng 04 năm 1972. Bố trí vòng đai phòng thủ với Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (Trung Đoàn 9 Bộ Binh cùng Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh đã bị đánh tan tại Quận Lộc Ninh từ ngày 04 đến ngày 07 tháng 04 vừa qua). Riêng Trung Đoàn 7 vừa mới xáp chiến với một đơn vị Cộng Sản Bắc Việt vùng 5 cây số phía Đông (phi trường Quản Lợi) đã bị thiệt hại gần 1 Tiểu Đoàn. Thêm được LIên Đoàn 3 Biệt Động Quân vừa được trực thăng vận vào ngày 07 tháng 04 năm 1972. Như vậy lực lượng phòng thủ cho đến ngày hôm nay bên trong Thị Xã An Lộc (ngày 09 tháng 04 1972) về quân chủ lực chỉ có 5 Tiểu Đoàn (2 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 7 Bộ Binh và 3 Tiểu Đoàn của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân), phải chống trả với 4 Sư Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt. Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đang chuẩn bị tăng viện cho An Lộc, sẽ khởi phát Trực Thăng Vận vào ngày 11 tháng 04 năm 1972. Thêm vào đó, lực lượng của Tiểu khu Bình Long có vào khoảng 2 Tiểu Đoàn.

– Sư Đoàn 18 Bộ Binh do vị Tư Lệnh mới đến nhậm chức là Đại Tá LÊ-MINH-ĐẢO chỉ còn lại trong tay có 1 Trung Đoàn, đang trực tiếp giải toả Quốc Lộ 13 cùng với Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, và vị Thiết Đoàn Trưởng, Đại Tá Trương Hữu Đức, vừa mới tử trận tại chiến trường cách đây 2 ngày, 1 Trung Đoàn khác của Sư Đoàn 18 Bộ Binh đóng tại Căn Cứ Hoả Lực Cần Lê cũng đã được lệnh rút về An Lộc. (Trung Đoàn này đang bị 2 Trung Đoàn Cộng Quân vây đánh từ chiều ngày 06 tháng 04, được lệnh cho phá huỷ hết chiến cụ nặng, chỉ còn lại Bộ Binh rút lui, và vẫn còn đang chạm súng nặng với địch, chưa rõ thiệt hại ra sao và vẫn còn đang trên đường triệt thoái về An Lộc

– Sư Đoàn 25 Bộ Binh, cả 3 Trung Đoàn đang quần thảo với địch cấp Trung Đoàn tại vùng các căn cứ hoả lực Xa Mát và Thiện Ngôn tại lãnh thổ Tây Ninh, tin sau cùng cho biết địch đã làm chủ tình hình tại Xa Mát và đang tiến về căn cứ Thiện Ngôn do Trung Đoàn 49 Sư Đoàn 25 trấn giữ, các đơn vị khác của Sư Đoàn 25 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đang được điều động đến để giải toả áp lực của Cộng quân, nên không thể tách ra được dù là một Trung Đoàn, để tăng cường cho mặt trận An Lộc, vì Tây Ninh cũng nằm sát hành lang xâm nhập của Cộng Quân từ biên giới Việt Miên.

Với tình hình và áp lực đang bổ vây An Lộc, Trung Tướng MINH có đệ trình về Bộ Tổng Tham Mưu xin thêm quân Tổng Trừ Bị tăng viện, và đã được Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trường Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trình với Tổng Thống chấp thuận cho chiến trường Vùng 3 : Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù. Cả hai đơn vị tinh nhuệ này cũng đang trên đướng di chuyển đến trận địa. Nhưng theo Tướng Minh nhận xét, cũng vẫn chưa đủ an toàn cho Thủ Đô Sài Gòn. Cuối cùng, Trung Tướng Minh thỉnh cầu Hội Đồng An Ninh Quốc Gia chấp thuận tăng cường cho chiến trường Quân Khu III thêm ít nhất một Sư Đoàn nữa, để làm Vòng Đai Phòng Thủ An Toàn cho Thủ Đô Sài-Gòn đề phòng trong trường hợp tuyến An Lộc bị đổ vỡ.

Đề nghị tăng phái Sư Đoàn 21 Bộ Binh cho Quân Khu I hay Quân Khu III được thảo luận sôi nổi, cân nhắc nặng nhẹ … Trước tiên Tổng Thống Thiệu muốn nghe ý kiến của Trung Tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG, Tư Lệnh Quân Đoàn 4/Quân Khu IV. Tướng Trưởng phân tích, sở trường của Sư Đoàn 21 Bộ Binh là đánh vùng đồng bằng và sình lầy, không thích hợp cho Vùng 1 rừng rậm và núi non, Đại Tướng Cao Văn Viên trước đây là Tư Lệnh Sư Đoàn Dù đã từng hành quân khắp 4 Vùng Chiến Thuật, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm trước đây đã từng là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, cũng là vị cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cũng cho nhận xét của Tướng Trưởng là đúng, kế đến Trung Tướng Đặng Văn Quang phân tích, An Lộc chỉ cách Sài-Gòn có 100 cây số, nếu để thua tại mặt trận này thì chỉ cần có 2 tiếng đồng hồ sau là xe tăng và bộ binh địch quân sẽ dẫm nát Thủ Đô của Việt Nam Cộng Hoà và thắng trận luôn, như vậy dù có giữ được Quân Khu I đi chăng nữa mà Sài- Gòn thất thủ thì cũng như không. Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm cho rằng sự phân tích của Trung Tướng Quang là xác thực, phải ngăn chặn địch bằng mọi giá ngay tại An Lộc. Còn riêng Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, Trung Tướng NGÔ DZU, thì rất may mắn có được vị cố vấn trưởng John Paul Vann, một vị cố vấn rất tận tình với chức vụ và gắn bó với các cấp chỉ huy các Sư Đoàn Bộ Binh Sư Đoàn 22 và Sư Đoàn 23 Việt Nam Cộng Hoà, và là vị cố vấn có nhiều quyền lực nhất trong việc xin các phi tuần Không Quân Chiến Thuật cũng như Chiến Lược (B.52), nên không cần xin thêm quân tăng viện, còn đủ khả năng phòng thủ diện địa cho Vùng 2 Chiến Thuật.

Cuối cùng mặt trận An Lộc được đánh giá cao hàng đầu, so với mặt trận Quảng Trị và mặt trận Kontum, vì vậy, dù Tổng Thống Thiệu đã lỡ hứa với Trung Tướng Lãm thì cũng không thể nào làm khác hơn được, vì phải đặt sự sinh tồn của QUỐC GIA lên hàng đầu. Và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia quyết định tăng viện Sư Đoàn 21 Bộ Binh cộng thêm Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà cho Quân Khu III để làm hàng rào cuối cùng ngăn chận quân Cộng Sản Bắc Việt đang có mưu đồ tiến chiếm luôn THỦ ĐÔ của Nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Đại Tướng Cao văn Viên dành mọi ưu tiên cho Quân Khu III cả về quân tăng viện lẫn tiếp tế. Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Trung Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, được lệnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tức tốc tập trung quân, được di chuyển ngày đêm đến Lai Khê bằng cả hai phương tiện đường bộ cho những chiến cụ nặng và Thiết Vận Xa, trực thăng vận các Trung Đoàn Bộ Binh đến Lai Khê, hoàn tất vào ngày 12 tháng 04 năm 1972. Chỉ trong vòng có hơn 3 ngày mà di chuyển được một đoàn quân hơn 14,000 chiến binh với tất cả chiến cụ nặng, vượt đoạn đường dài 330 cây số, từ Tỉnh Cà Mau (nơi đặt Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 32 Bộ Binh) và các cánh quân đang bổ vòng đai xung quanh rừng U MInh, tập trung về thị xã Cà Mau và Tỉnh Lỵ Chương Thiện (nơi đặt Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 31 Bộ Binh), xuyên qua Tỉnh Bạc Liêu (nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh), đến Sóc Trăng (nơi đặt Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 33 Bộ Binh) và phải xuyên qua 2 bến phà (bắc) Cần Thơ và (bắc) Mỹ Thuận, trong thời gian kỷ lục, thật không hổ danh là những đại đơn vị có CƠ ĐỘNG TÍNH CAO như Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến vậy. (9)

Chú thích: (9) Nhật ký hành quân của Quân Đoàn 3 ghi về trận chiến An Lộc năm 1972.

Tóm lại, tính đến ngày 09 tháng 04 năm 1972, lực lượng trừ bị của Quân Đoàn 3/ Quân Khu III có được như sau :

* Cơ hữu của Quân Đoàn : Chỉ còn lại Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh,

* Trừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu : Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù,

* Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà : Sư Đoàn 21 Bộ Binh, và Trung Đoàn 15/ Sư Đoàn 9, Quân Đoàn 4 Việt Nam Cộng Hoà.

Tất cả các đại đơn vị trừ bị cho mặt trận An Lộc, được trình diện và đặt dưới quyền điều động của Bộ Tư Lệnh Hành Quân Quân Đoàn 3 tại Căn Cứ Lai Khê (Bình Dương), dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trung Tướng NGUYỄN VĂN MINH, Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III .

Đơn vị cuối cùng của Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đến Lai Khê vào chiều ngày 12 tháng 04 năm 1972 .

Tính đến chiều ngày 08 tháng 04 năm 1972, toàn bộ 4 Công Trường Cộng Sản Bắc Việt (từ 35,000 đến 37,000 quân bộ chiến) dự định đè bẹp lực lượng quân phòng thủ chỉ có 4, 200 Chiến Sĩ đã quá mệt mỏi và không được bổ sung. Tính ra là 1 Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải chọi với trên 8 tên Cộng Sản Bắc Việt. Nhưng không phải vì vậy mà Cộng Sản Bắc Việt nghĩ là dễ nuốt An Lộc.

Tưởng cũng nên nhắc lại : Lệnh của Trung Ương Cục Miền Nam, tức là lệnh của Hà Nội như sau “Phải dứt điểm An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972”. Mục đích là để ra mắt Mặt Trận Giải Phóng MIền Nam và tối hậu, dùng An Lộc làm điểm tựa, đánh thẳng vào Sài Gòn, Thủ đô Việt Nam Cộng Hoà.

Chỉ còn có 12 ngày ngắn ngủi, mà các đơn vị quân Cộng Sản Bắc Việt vẫn chưa phát khởi được cuộc tấn công chính .

Chiếu theo nguồn tin tình báo, do tù binh cấpTiểu Đoàn của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, bị Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà bắt được trong trận tấn công mở màn mặt trận phía Bắc, ngày 13-04-1972, khai báo: Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt có nhiệm vụ: sau trận tấn công và chiếm cứ Lộc Ninh, kế tiếp làm nỗ lực chính tấn công An Lộc, thừa thắng tấn chiếm Tỉnh Bình Dương, và mục tiêu cuối cùng là Thủ Đô Việt Nam Cộng Hoà (Sài Gòn).

Trong khi đó, Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt sau khi thắng trận Lộc Ninh, phải mất cả tuần lễ, mà vẫn chưa xuất phát được, để tấn công vào An Lộc ; Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt đã hoàn thành các ổ phục kích và các chốt kiền, để chặn đoàn quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ phía Nam dọc theo Quốc Lộ 13 tiến về phía Bắc, để giải toả cho các đơn vị bạn (Việt Nam Cộng Hoà) đang bị bao vây tại An Lộc. Công trường 9 dường như được dùng làm thành phần trừ bị cho Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt. Trong lúc đó, 2 đơn vị đóng vai chánh trong cuộc khai pháo dứt điểm, là Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt và Công Trường Bình Long thì chưa sẵn sàng để tấn công vì những lý do sau đây :

a – Trong trận đánh cầu Cần Lê, các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã chiến đấu rất dũng mãnh, đã đánh bật nhiều đợt xung phong biển người của địch, cộng thêm Pháo Binh và Không Quân Chiến Thuật của Không Lực Đồng Minh Hoa Kỳ, oanh kích rất chính xác, đã gây cho 2 đơn vị này tổn thất rất lớn
(hơn 1 Trung Đoàn).

b – Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, sau khi chiếm được Lộc Ninh phải lo chỉnh đốn lại hàng ngũ, tái bổ sung quân số, lo vơ vét chiến lợi phẩm của quân dân Lộc Ninh, tiêu phí thời gian cả tuần lễ.

c – Tiếp theo sau và liên tục, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đã chỉ điểm, gần như chính xác, các đường tiến quân và các vị trí pháo binh địch, cho Không Quân Chiến Thuật và Không Quân Chiến Lược Hoa Kỳ oanh kích và oanh tạc, với hàng trăm phi tuần và phi vụ trên đầu quân Bắc Việt. Những tiếng nổ phụ, được nghe thấy ngay cả từ trong Thị Xã An Lộc, qua nhiều tiếng đồng hồ liền, chứng tỏ, những ổ pháo binh địch và những điểm tiếp liệu đạn dược của pháo binh và bộ binh địch đã bị nổ tung. Cho nên các đơn vị khác của quân Cộng Sản Bắc Việt phải đành chịu chờ đợi, cho đến khi Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt và Công Trường Bình Long củng cố, và tổ chức lại hàng ngũ, rồi mới chính thức khai pháo mở cuộc tấn công vào Thị Trấn An Lộc.

4. MỞ MÀN TRẬN CHIẾN KHỐC LIỆT:
TẠI MẶT TRẬN PHÍA BẮC AN LỘC. TRẬN TẤN CÔNG LẦN THỨ NHẤT (sáng ngày 13-04-1972)

Vào đêm 12 tháng 04 năm 1972, Cộng quân mở trận mưa pháo tập trung vào các địa điểm: Bộ Chỉ Huy dã chiến của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (địa điểm cũ), Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, và dọc theo vòng đài phòng thủ của các đơn vị trú phòng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Pháo đủ loại nhiều nhất là đại bác 130 ly, hoả tiễn 122 ly v.v… ước lượng đến 6,000 quả đủ loại, từ đầu hôm cho tới suốt đêm, mục đích là cố tiêu diệt các Bộ Chỉ Huy đầu não của lực luợng phòng thủ (riêng tại vị trí của Bộ Chỉ Huy Tiền Phương cũ của Tướng Hưng, bị trúng trên 1,000 quả đạn pháo đủ loại của địch, bị phá hủy tan nát, nhưng không có thiệt hại về nhân mạng), đặc biệt dọc theo vòng đai tuyến phòng thủ mặt Bắc Thị Xã An Lộc để uy hiếp tinh thần binh sĩ đang có mặt trên tuyến vòng đai bảo vệ, cũng như dọn đường cho chiến xa và bộ binh địch tấn công trực diện, theo chiến thuật Tiền Pháo, Hậu Xung (biển người).

Sau đợt mưa pháo kéo dài trên 10 tiếng đồng hồ, Cộng quân chuyển Pháo vào sâu trong thành phố, chừa lại mặt Bắc cho cả Tiểu Đoàn Chiến Xa T.54 và PT.76 với 4 Trung Đoàn Bộ Binh Tùng Thiết chia làm 3 mũi dùi, ồ ạt tiến công vào Thị Xã. Điểm nỗ lực chính vào hướng chính Bắc, và 2 cứ điểm phụ tại Đồi Đồng Long (1 cây số Tây Bắc) do Đại Đội Trinh Sát 8 và 1 Đại Đội Địa Phương Quân trấn giữ, và phía sân bay L.19 (1 cây số Đông Bắc) do Tiểu Đoàn Điạ Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long trấn giữ. Lực lượng địch được bố trí như sau : tại mặt chính Bắc Cộng Quân sử dụng Trung Đoàn 174 và E.6 Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, mũi dùi tấn kích Đồi Đồng Long Cộng Quân sử dụng Trung Đoàn 275 Cộng Sản Bắc Việt, mũi dùi tấn kích sân bay L19 Cộng Quân sử dụng Trung Đoàn Thép của Công Trường Bình Long Cộng Sản Bắc Việt. Tất cả các cánh quân đều có chiến xa T.54 và PT.76 trợ chiến, mạnh nhất là mặt chính Bắc. (xem bản đồ số 5).

Tại mặt chính Bắc : Do Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà trấn thủ.

Chiếu theo Hồi Ký của Nhân Chứng Sống (đình kèm ở Phần Phụ Đính) . Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh (1975), cựu Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh (1972), Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa có những đặc điểm sau đây :

• Trước khi được trực thăng vận vào An Lộc, Trung Đoàn 8 tình cờ tìm thấy trên 2,000 khẩu súng chống chiến xa M.72 của Quân Lực Hoa Kỳ còn để sót lại trong một hầm súng tại căn cứ Trị Tâm. Khi vào An Lộc, Trung Đoàn 8 Bộ Binh có mang theo đầy đủ loại khắc tinh chống chiến xa đó, và được trang bị tới cấp Tiểu Đội. Tất cả các cấp từ Sĩ Quan cho tới binh sĩ Trung Đoàn 8 đều được huấn luyện và hướng dẫn cách sử dụng M.72. Số còn thừa, Trung Đoàn 8 chia cho Trung Đoàn 7 và LIên Đoàn 3 Biệt Động Quân để xử dụng khi cần thiết. Chiếu theo tài liệu, loại súng M.72, khi nổ phát ra một sức nóng rất cao, lên đến 3, 600 độ F, và có công dụng làm chảy sắt.

• Ngay khi hai Tiểu Đoàn đầu tiên và Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 8 vừa đến tuyến án ngữ mặt Bắc, Đại Tá Trường được Tướng Hưng cho biết, Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt có chiến xa yểm trợ đang trên đà tiến từ Lộc Ninh đồ xuống từ hướng Bắc, Đại Tá Trường còn có sự cảnh giác trước, ngoài Bộ Binh và Chiến Xa, địch còn mở vài trận mưa pháo trước khi tấn công. Cho nên Đại Tá Trường đã ra lệnh cho tất cả các chiến binh Trung Đoàn 8 Bộ Binh phải tức tốc đào hầm và giao thông hào có nắp chống pháo, dàn hàng ngang hai bên đường Quốc Lộ 13 trên tuyến phòng thủ.

• Chỉ thị cho Sĩ Quan Pháo Binh Trung Đoàn 8, phối hợp với Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh, thiết lập sơ đồ pháo tiên liệu 1, 500 thước, dọc theo Quốc Lộ 13 từ Bắc xuống Nam, và trình xin với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, xin ưu tiên hoả lực cho mặt phòng thủ phía Bắc của Trung Đoàn 8 Bộ Binh khi hữu sự.

• Tiếp theo, vào ngày hôm sau, (12-04-1972), trực thăng vận đổ thêm Tiểu Đoàn còn lại và Đại Đội 8 Trinh Sát, được dùng làm lực lượng trừ bị cho Trung Đoàn, bố trí chiều sâu dọc theo những cao ốc được đúc bằng bê tông chạy dài theo Đại Lộ Ngô Quyền, cũng là Quốc Lộ 13, chạy ngang qua Thành Phố An Lộc ; riêng Đại Đội 8 Trinh Sát, được đưa lên làm Tổng Tiền Đồn trên Đồi Đồng Long, tiếp tay với Đại Đội Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long đã có sẵn tại đây.

Trong số 2.500 quân của Trung Đoàn 8 Bộ Binh được đổ vào An Lộc, có 400 chiến sĩ gốc là Lao Công Đào Binh (cũng là những chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà gồm đủ mọi cấp đã vi phạm kỷ luật quân đội khá trầm trọng như đào ngũ, hành hung Sĩ Quan hay cấp chỉ huy, của đủ mọi thành phần trong các quân binh chủng thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, gom lại từ các trung tâm trừng giới các nơi, rồi phân phối trở lại cho các đơn vị tác chiến cấp Sư Đoàn, để dùng vào việc tạp dịch và lao công, không được trang bị vũ khí. Vào khoảng trung tuần tháng 04 năm 1972, Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, được Bộ Tổng Tham Mưu phân phối cho 400 Lao Công Đào Binh, để chia ra cho 3 trung đoàn bộ binh ; trong thời điểm này, chỉ còn duy nhất có Trung Đoàn 8 Bộ Binh là chưa được tham chiến, nên phòng Tổng Quản Trị Sư Đoàn mới chuyển toàn bộ 400 Lao Công Đào Binh cho Trung Đoàn 8, để tức thời đổ vào An Lộc. Khi trận chiến quyết liệt khởi diễn vào ngày 13 tháng 04 năm 1972, Đại Tá Mạch Văn Trường, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8, nhận thấy một vài anh em Lao Công Đào Binh bị trúng miểng đạn pháo của Cộng quân tử trận, trong lúc trong tay không có một tấc sắt để phòng thân, thật là tội nghiệp và bất công cho linh hồn các Lao Công Đào Binh quá cố đó. Ông liền có quyết định táo bạo không cần biết những sự gì sẽ xảy ra sau này, Đại Tá Trường liền cho tập họp hết các Lao Công Đào Binh để hỏi ý kiến, và kích động tinh thần của họ, gợi ý trang bị vũ khí cho tất cả anh em. Sau khi nghe lời kích động của Đại Tá Trường, tất cả các anh em Lao Công Đào Binh đồng loạt hoan hô, và xin trang bị vũ khí cấp thời cho họ, để họ có cơ hội cùng anh em đồng đội trong Trung Đoàn 8 Bộ Binh chiến đấu sát Cộng . Như vậy là Trung Đoàn 8 Bộ Binh có thêm được 400 tay súng gan lỳ và hăng say nhất, trong việc đánh cận chiến cũng như vác M.72 đi lùng chiến xa địch. Đúng như cổ nhân có câu “Phép vua thua lệ làng” người chỉ huy tại măt trận có toàn quyền ứng biến theo tình thế, bất chấp câu nệ vào nguyên tắc hay lệnh vua (Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà) đã ấn định từ trước. (10)

(10) Theo lời tường thuật của Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, nhân chứng sống, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Cựu Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, hiện cư ngụ tại Houston, TX.

Cũng cùng chiến pháp này, sử sách có ghi lại vào năm 496 trước Công Nguyên, vị vua trẻ nước Việt bên Tàu tên là Câu Tiễn đã xử dụng 3,000 tù tử tội, xông thẳng vào trung quân của vua Ngô là Hạp Lư có đến 30,000 quân sĩ. Các tù tử tội đã đánh một trận quyết liệt, khiến quân Ngô tán loạn hàng ngũ, lui dần bỏ lại chủ soái là vua Hạp Lư, và các tướng lãnh khác, phải rất vất vả để cứu vua Hạp Lư thoát hiểm trong gang tấc trên chiến địa. Vua Hạp Lư phải trả một giá rất đắt bằng chính sinh mạng của mình, sau khi chạy về đến Ngô quốc của ông ta, vì vết thương ở chân không được chữa trị kịp thời.

Các tù tử tội vào thời xa xưa đó, được Câu Tiễn hứa là được tha và cho thêm vài quyền lợi sau khi chiến thắng trở về.

Vì lẽ sinh tồn, thà chết vinh quang ngoài chiến trường, lại còn có dịp giết quân địch, nếu còn sống sót thì sẽ được phục hồi nguyên phương vị cũ, và còn được vinh danh là chiến sĩ anh hùng tử thủ An Lộc, cho nên tất cả 400 tay súng lao công đào binh, bỗng nhiên trở thành những chiến sĩ ưu việt nhất của Trung Đoàn 8 Bộ Binh.

Từ xa, cách tuyến phòng thủ khoảng 3 cây số về hướng Bắc, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã nghe được tiếng động cơ của chiến xa địch, và từ từ nhìn thấy chúng, mọi người đều hồi hộp chờ đợi từng bước sự tiến công của địch, tinh thần giao động, vì lần đầu tiên giáp chiến với chiến xa địch, vả lại chưa biết sự lợi hại của loại súng chống chiến xa M.72 như thế nào ??? Nhưng việc gì đến rồi cũng phải đến.

Từ trên nóc sân thượng của căn lầu hai tầng, Đại Tá Trường đặt ống nhòm theo dõi từng bước của chiến xa và bộ binh địch, đang tiến lần xuống, … cho đến khi nhận thấy đoàn chiến xa và bộ binh địch đã lọt vào trận địa pháo, Đại Tá Trường ra lệnh cho Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh cơ hữu, cho 8 khẩu 105 ly và 2 khẩu 155 ly còn xử dụng được thi nhau nhả đạn, đạn xuyên phá để chống chiến xa, đạn nổ chụp ngay trên đầu để triệt hạ bộ binh địch.

Vì pháo của ta quá chính xác và có hiệu quả cao, một phần bộ binh địch chạy lui trở lại với hy vọng sẽ thoát ra khỏi trận địa pháo, một số khác chạy thục mạng tới trước để tránh pháo của Việt Nam Cộng Hoà, đoàn chiến xa Cộng quân đang nối đuôi theo sau, phải loay hoay khựng lại, riêng chỉ có 15 chiếc T.54 đi đầu tống ga vọt đại về phía trước, đằng sau không có bộ binh tùng thiết nào cả. Chiến xa địch chạy khơi khơi một mình, xả máy chạy ùa vào ngay tuyến phục kích của Tiểu Đoàn trừ bị của Trung Đoàn 8 đang có mặt trên các cao ốc, các Chiến Sĩ của Trung Đoàn 8, dùng đủ loại súng từ trên cao tác xạ thẳng xuống mục tiêu to lớn đang di chuyển khó khăn trên đường, có tên là Ngô Quyền. Các xạ thủ đại liên trên pháo tháp các chiến xa địch, vì thế phải chui tuột xuống đậy nắp pháo tháp, để tránh đạn của các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh. Chiến xa địch giờ này chỉ còn lại duy nhất khẩu đại bác 100 ly nòng dài, lại không xoay sở gì được, vì đã vô tình lái vào con đường hẹp, hai bên là cao ốc, và lề đường lại có cống rãnh không chịu nổi sức nặng của chiến xa. Tiến thối lưỡng nan, dậm chân tại chỗ sụp rãnh, lay hoay chờ chết.

Binh sĩ của Trung Đoàn 8 Bộ Binh, lần lần đâm ra dạn dĩ, vác M.72 ra tác xạ, vài quả đầu có chút sai lệch, chiến xa chưa chết, nhưng càng bắn càng có kinh nghiệm, bắn trúng vào chỗ nhuợc, chiến xa bốc cháy.

Anh em ơi ! Xe tăng địch bị M.72 bắn cháy rồi !” Tiếng hò la vang dậy của anh em chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nói chung, và của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà nói riêng, giữa mùi thuốc súng và khói bốc ra đen xì của chiến xa, cùng xác cháy của vài xạ thủ hay tài xế địch, nhảy ra khỏi chiến xa, đã làm nức lòng các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà. Không còn sợ xe tăng địch nữa. mà trái lại còn thích thú vác M.72 đi lùng tăng địch để bắn hạ (tiếng bình dân của anh em binh sĩ gọi là “sơi tái”). Kết quả : 12 chiến xa địch đều lần hồi bị tiêu diệt bởi các chiến binh Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà, ngay đợt tấn công mở màn cho trận đánh vào An Lộc, số còn lại do các trực thăng võ trang Cobra của Hoa Kỳ có gắn hoả tiễn chống chiến xa bắn hạ. (11)

Chú thích: (11) Nhật Ký Hành Quân của Quân Đoàn 3/Quân Khu III ghi về trận chiến An Lộc năm 1972 .

5. TRẬN CHIẾN TẠI ĐỒI ĐỒNG LONG VÀ PHI TRƯỜNG L.19

5.1 MẶT TRẬN PHÍA ĐÔNG AN LỘC

Kiểm điểm lại từ lúc khởi phát cuộc tấn công vào mặt Bắc An Lộc, Cộng quân xua toàn bộ Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt cộng thêm một trung đoàn của Công Trường Bình Long, nghĩ rằng lực lượng phòng thủ chỉ có nhiều lắm là một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân (khoảng 400 quân sĩ) thì không thể nào cản nổi đà tiến công của quân Cộng Sản Bắc Việt (gồm gần 12,000 cán binh), có cả chiến xa trợ chiến.

Cộng quân không ngờ khi xáp trận, mới vỡ lẽ ra rằng đã chạm trán với lực lượng phòng thủ không phải là 1 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, mà chạm trán với nguyên Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà với cả 2, 500 tay súng, trong tay các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà có trên 2,000 khẩu súng chống chiến xa M.72, với các xạ thủ đầy nhiệt huyết và gan lỳ. Khi thủ trưởng của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt nhận thấy được các đơn vị bộ binh và chiến xa đi đầu chạm trán với Đại Đội 8 Trinh Sát của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà tại Đồi Đồng Long, và đoàn 15 chiếc T.54 lọt được vào thành phố rồi mất liên lạc tần số luôn, khói bốc lên cả cụm từ xa 3 cây số còn nhìn thấy, thì mới nhận biết, có gì bất lợi cho các đơn vị của mình. Căn cứ vào bản điều nghiên trận liệt của Cộng quân lúc ban đầu và thực tại thì thấy khác xa. Khi biết được rồi thì đã quá muộn, nên bị bất ngờ và giao động, lúc thì khựng lạI lúc lại xua quân đánh ván bài liều thí quân .

Sáng sớm ngày 15 tháng 4, cánh quân từ phía Đồi Đồng Long (Trung Đoàn 275 Cộng Sản Bắc Việt) từ phía trái có T.54 yểm trợ đã xáp chiến với Tiểu Đoàn 1/8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, lấn được một phần đất để bám trụ, còn chiến xa thì dường như bị các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà bắn cháy gần hết, vài chiếc chiến xa còn lại thì de lui để chờ lệnh mới. Cánh quân chính diện mặt Bắc của Cộng quân, có Sư Trưởng phía sau, gom quân lại rồi ra lệnh tấn công vào thành phố thêm một lần nữa, với thành phần bộ binh Trung Đoàn 174 Cộng Sản Bắc Việt và 1 đơn vị chiến xa T.54 và PT.76 của Trung Đoàn 203 Thiết Giáp, còn bên phải trách nhiệm của Trung Đoàn Thép Công Trường Bình Long thì còn ì ạch chưa dám xáp gần đến phần ranh phía Đông Bắc trách nhiệm của Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà, hoặc là chờ thêm hai trung đoàn của Công Trường Bình Long từ hướng Đông (phi trường Quản Lợi), tiến dần xuống tuyến phòng thủ của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà.

Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân là lực lượng trừ bị rất thiện chiến của Quân Khu III, từ tỉnh Tây Ninh được trực thăng vận vào An Lộc ngày 07 tháng 04 năm 1972, với 3 Tiểu Đoàn cơ hữu 31, 36, và 52 Biệt Động Quân, với quân số 1, 500 quân, do Trung Tá Nguyễn văn Biết chỉ huy, Liên Đoàn này đã từng quần thảo với Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường ngoại biên năm 1971.

Ngay ngày đầu tiên khi vừa mới đặt chân đến An Lộc, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, được Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà chỉ định dàn quân giữ một tuyến phòng thủ trải dài gần 5 cây số, từ suốt mặt phía Bắc đến giáp mặt phía Đông chỉ với hai Tiểu Đoàn 31 và 52 Biệt Động Quân, còn Tiểu Đoàn thiện chiến nhất của Liên Đoàn là Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân được lệnh phảI tổ chức tuyến phục kích án ngữ cách thị trấn 1 cây số về phía Đông dọc theo con lộ dẫn từ tỉnh lỵ đến phi trường Quản Lợi để ngăn bước tiến quân, của quân Cộng Sản Bắc Việt.

Mời quý vị đọc một đoạn ngắn được trích ghi trong hồi ký của ĐạI Úy Đồng Kim Quan, Đại Đội Trưởng Đại Đội 4, Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân, là một nhân chứng sống, tường thuật như sau:

10g00 sáng hôm sau, ngày 07 tháng 04, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ Tây Ninh đền An Lộc bằng trực thăng HU1B.

12g00. Tiểu Đoàn 36 di chuyển về hướng phi trường Quản Lợi. Ra khỏi phía Đông An Lộc một cây số, tụi tôi chạm địch. Theo tin tình báo, lực lượng quân Bắc Việt là Trung Đoàn 272 Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt. Tiểu Đoàn 36 nhận được lệnh giữ con đường này và án ngữ đường vào An Lộc của Việt Cộng.

Mối lo ngại chính bây giờ là dân chúng. Sinh mạng họ không cho phép pháo, phi pháo yểm trợ tối đa. Bọn Việt Cộng chắc rõ nhược điểm này nên chúng khai thác triệt để. Mắt tôi dại hẳn khi thấy những người dân liều lĩnh chạy ra khỏi vòng chiến bị Việt Cộng bắn ngã xấp mặt về phía trước.

Thiếu Tá Tống Viết Lạc, Tiểu Đoàn Ttưởng Tiểu Đoàn 36, tức tối :

– Quân dã man, nó lấy dân làm mộc đỡ đạn mình đây mà.

Gương mặt ông cau lại, chiến đấu bên cạnh ông nhiều, tôi biết ông sắp sửa có quyết định. Mỗi cấp chỉ huy đều có một lối quyết định riêng. Thiếu Tá Lạc luôn luôn có quyết định đúng lúc. Ông quay lại người hiệu thính viên cầm máy :

– Gọi “gà cố” bảo tụi nó gáy đi.

Mặc dù biết trước, tôi vẫn sững người trước quyết định đột ngột này vì hàng ngàn dân còn đang kẹt lại trong đó. Tôi ấp úng :

– Thưa Thiếu Tá …

Giọng Thiếu Tá Lạc lại vang lên thật bình thản :

– Gọi pháo binh, nhưng dặn chỉ bắn đạn khói mà thôi.

Tôi chợt hiểu, biết địch rất sợ pháo, ông cho pháo binh bắn đạn khói, lợi dụng cơ hội địch trốn pháo, dân sẽ thoát ra. Đã có tiếng Départ rít lên nghe rõ mồn một. Vài tiếng đồng hồ sau, chiến trường nghiêng ngửa rõ rệt. Dân chúng tại Quản Lợi đã được di tản ra gần hết, chúng tôi hoàn thành nhiêm vụ ở giai đoạn đầu : giải thoát cư dân.

Án ngữ đường vào An Lộc của Việt Cộng là giai đoạn sau của Tiểu Đoàn 36 trong những ngày kế tiếp 8, 9, 10, 11, 12, 13 và 14 tháng 04. Quản Lợi vẫn nguyên vẹn mặc dù 24/24 giờ đều đụng địch. Hình như tử thần đang lảng vảng đâu đây ?

Ngày N+11, sau 5 ngày thất bại, Việt Cộng nhất quyết nhổ cái gai Tiểu Đoàn 36 bằng chiến thuật biển người đánh vào 3 mặt : Bắc, Đông và Tây. Áp lực rất nặng, phòng tuyến hai bên chỉ cách nhau 30 thước. Đợt tấn công đầu, chúng lao vào như những con thú điên được chích thêm thuốc kích thích. Những ổ đại liên, trung liên ở tuyến đầu làm việc rất đắc lực làm chúng không tiến được. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng lầu bầu :

– Đánh nhau với lũ điên này bực cả mình, chắc chúng nó điếc hết cả rồi, đâu có sợ súng ?

Áp lực địch trước mặt vẫn còn nặng, tôi đưa ý kiến với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng xin điều chỉnh cho pháo binh bắn yểm trợ. Đây là một mạo hiểm lớn nhất của tôi trong gần mười tuổi lính. Cách nhau 30 thước, chệch một ly ông cụ là … cõng rắn cắn gà nhà. Tim tôi bóp lại khi nghĩ đến điều đó. Thiếu Tá Lạc ưng thuận sau một phút nghĩ ngợi. Tôi mím chặt môi, nâng máy truyền tin vô tuyến lên điều chỉnh … Ầm … Ầm …

Xác địch hất tung lên ngang tầm mắt, tôi ngồi bệt xuống đất, những giọt mồ hôi hai bên trán nhỏ xuống thoải mái.

Tiếng Thiếu Tá Lạc loáng thoáng :

– Đẹp lắm … !

Sau hơn 10 tràng pháo nổ, bên kia tuyến của địch quân bỗng nhiên ngừng bắn. Cái im lặng thật là ngột ngạt. Năm, rồi mười phút trôi qua mau chóng, từ từ chúng tôì nghe tiếng động cơ ì ầm đang tiến dần về hướng chúng tôi. Rồi lần lần hiện ra những chiến xa của địch. Tất cả các chiến sĩ Biệt Động Quân liền chuẩn bị các khẩu M.72, yên lặng nằm chờ phục bên đường, tinh thần không nao núng mà trái lại còn cảm thấy thích thú khi nhìn thấy chiến xa địch tiến gần. 50 thước, 40 thước, … rồi 30 thước, … các khẩu M.72 thi nhau nổ, các cụm khói đen bốc ra từ các chiến xa T.54 dẫn đầu. Bị cú bất ngờ, hai chiếc dẫn đầu bị bắn cháy, còn lại khoảng 8 chiếc phía sau quay đầu bỏ chạy, không dám bắn trả, dù rằng một quả. Bên cạnh chiến xa không thấy có cán binh tùng thiết. Chính nhờ điểm này chúng tôi mới biết được rằng Bộ Binh và Thiết Kỵ của quân Cộng Sản Bắc Việt không được phối hợp để yểm trợ cho nhau…. Thua keo này bày keo khác, nửa giờ sau chiến xa lại dàn hàng ngang theo sau lố nhố bộ binh, tiếng súng lại nổ, M.72 được bắn ra hàng loạt, quân địch đông như kiến, T.54 bị cháy tạo ra một cảnh tượng hỗn loạn đánh giáp lá cà giữa Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân và khoảng 2 trung đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt, trong đó theo lời của một tù binh địch khai báo có cả Trung Đoàn 272 Công Trường 9 tham dự trận đánh này”.

Cùng thời điểm, đêm 15 rạng 16 tháng 04 Cộng quân tiếp tục tràn ngập Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà, một số chiến sĩ lui về được đến tuyến phòng thủ chánh của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân đang bố trí trên vòng đai phòng thủ tỉnh lỵ, một số khác thất lạc ra tận đến chân đồi 169 (Đông Bắc An Lộc) và vào buổi chiều ngày 16 tháng 04 toán quân thất lạc (47 chiến sĩ) của Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân gặp được Biệt Kích Dù dưới chân đồi 169 và tháp tùng Biệt Kích Dù trở về họp lại với Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân đang cùng trên tuyến phòng thủ với Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân ở mặt tuyến phía Đông thành phố.

Trong suốt đêm 14 rạng 15 tháng 04, Cộng quân gia tăng mưa pháo vào tuyến phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và vào vị trí pháo binh Việt Nam Cộng Hoà, ước tính trên 4,000 quả đủ loại. Sau khi dứt pháo, bộ binh và chiến xa địch lại tấn công; lúc bấy giờ cả 3 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 8 đều có mặt trên tuyến đầu chiến đấu, chống trả mãnh liệt, chiến xa Cộng quân lại thi nhau bị bắn cháy, hàng trăm cán binh Cộng Sản Bắc Việt bị bắn hạ khiến mũi dùi tấn công bị khựng lại một lần nữa, mặc dù Cộng quân lấn chiếm thêm được vài cao ốc trong thành phố để bám trụ..

Về mặt phía Đông, sau khi đẩy lui Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân, cả hai trung đoàn của Công Trường Bình Long và Trung Đoàn 272 của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt có 1 đại đội chiến xa yểm trợ tiếp tục lấn chiếm vào phòng tuyến của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, buộc Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân phải lùi lại 1 khu phố.

Trận chiến kéo dài đến chiều tối, bộ binh quân Cộng Sản Bắc Việt lấn thêm được 1 phần diện địa ở phía Đông thành phố (gần 1/2 diện địa phía Bắc của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân ở phía Đông), nhưng chúng đã phải trả 1 giá rất đắt, gần 2 trung đoàn bộ binh địch bị tiêu diệt bỏ xác tại trận, gồm những cán binh của Công Trường 5, Công Trường 9 và Công Trường Bình Long Cộng Sản Bắc Việt, trên 30 chiến xa T.54 và PT.76 bị bắn cháy và bị quân trú phòng bắt sống Về phía lực lượng phòng thủ, Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân tổn thất khoảng 35% quân số (11) (Xem bản đồ số 6)

Chú thích: (11) Nhật ký hành quân của Quân Đoàn 3/Quân Khu III ghi về trận chíến An Lộc năm 1972.

5.2 TẠI ĐỒI ĐỒNG LONG

Cộng quân tung Trung Đoàn 275 thộc Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt và một đại đội chiến xa hỗn hợp T-54 và PT-76 của trung đoàn 203 chiến xa, cộng thêm Tiểu Đoàn Phòng Không, một lực lượng đông gấp 12 lần so với lực lượng phòng thủ của Việt Nam Cộng Hoà. Các chiến sĩ của Đại Đội Trinh Sát và Địa Phương Quân đã chống trả rất mãnh liệt, đẫy lui liên tiếp 3 đợt tấn công biển người của địch, và bắn hạ tại chỗ 2 T-54 và 1 PT-76. Tuy nhiên, vì quân số ít và bị hao mòn dần, nên vị Đại Đội Trưởng gọi trình với Đại Tá Trường về tình trạng hiện hữu, được Đại Tá Trường cho lệnh rút lui theo từng giai đoạn để trở về tuyến phòng thủ chính của Trung Đoàn. Sau đó được điều động về bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Họ đã mang về được đầy đủ các chiến sĩ hy sinh và bị thương. Hoàn tất vào xế chiều ngày 13 tháng 04/1972.

Sau khi chiếm cứ đồi Đồng Long, là một trong những cao điểm chiến thuật quan trọng, từ đó có thể quan sát và khống chế mặt Bắc An Lộc dọc theo Quốc Lộ 13 ngang qua đồn Cảnh Sát Dã Chiến xuống tận khu chợ, và là một vị trí lý tưởng để đặt các ổ súng phòng không 12 ly 7, 37 ly và hoả tiễn cầm tay SA-7, Cộng quân thiết trí các khẩu súng cối 82 ly và các khẩu đại bác không giựt 57 ly và 75 ly cũng như các giàn phòng không để pháo vào các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà, đang bố trí trên vòng đai phòng thủ mặt phía Bắc một cách gần như chính xác.

Đồi Đồng Long được ghi nhận là một trong những yếu điểm trên cao thế, có tầm nhìn toàn khu vực mặt trận phía Bắc, mà lực lượng phòng thủ cần phải chiếm trở lại càng sớm càng tốt.

5.3 TẠI SÂN BAY L.19

Tiểu Đoàn Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long cũng kháng cự mãnh liệt với Trung Đoàn Thép của Công Trường Bình Long Cộng Sản Bắc Việt. Phần vì kho xăng cháy, phần vì kho đạn bị nổ, chiến xa và bộ binh địch cứ tràn vào, xuyên lủng, và chia cắt tuyến phòng thủ ra làm nhiều mảnh, cuối cùng Tiểu Đoàn Địa Phương Quân Việt Nam Cộng Hoà đã bị thiệt hại nặng, tần số liên lạc bị cắt đứt luôn sau hơn 2 giờ giao tranh. Sau đó vài giờ, một số chiến sĩ Địa Phương Quân còn lại đã tập hợp về được đến tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 8 Bộ Binh để tiếp tục tác chiến cùng với các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà.

Hai cánh quân địch đã thành công tấn chiếm đồi Đồng Long và sân bay L-19, nhưng cũng không dám tiến lên thêm, vì nhận thấy cánh quân chính mặt Bắc bị chặn cắt -một số chiến xa rồ ga chạy đại vào thành phố còn bộ binh một số phải chạy theo chiến xa vắt giò lên cổ, số lớn bộ binh khác thì khựng lại theo số chiến xa còn lại bên ngoài thành phố gần 2 cây số ngàn.

Trong khoảng thời gian ngắn, các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà củng cố lại tuyến phòng thủ, trong khi Tiểu Đoàn 3, trừ bị của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Vệt Nam Cộng Hoà đang lùng và thi đua bắn diệt tăng địch chết nằm la liêt dọc trên đường Ngô Quyền, 2 Tiểu Đoàn trên tuyến phòng thủ chính cũng lấy lại tinh thần và tất cả đều biết rằng loại vũ khí M-72 chính thực là loại khắc tinh của chiến xa địch, chuẩn bị đem ra xử dụng trong những giờ phút sắp tới, và dàn lại thế trận như cũ chờ đợi quân địch.

Về phía Cộng quân, sau khi không còn liên lạc được với bất cứ chiến xa nào chạy lọt vào thành phố, và khi nhìn thấy những cụm khói đen bốc ngút một góc trời, người chỉ huy mặt trận của quân Cộng Quân đã nhận biết 15 chiếc T-54 đã trở thành những khối sắt bất động.

Chỉnh đốn lại đội ngũ, dàn lại đội hình chiến xa và bộ binh, rồi gìở lại sách cũ, gọi pháo binh giập thêm khoảng 3,000 quả nữa trước khi cho chiến xa và bộ binh tiến giáp cận, mở đồng loạt xung phong biển người, 3 mặt giáp công, vào thành trì của các chiến sĩ Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và vào một phần đất mặt Đông Bắc của Biệt Động Quân .

Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà trách nhiệm khu tuyến phòng thủ phía Tây Bắc (cánh trái) Quốc Lộ 13, phải chống trả với cả 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt từ đồi Đồng Long đánh xuống có tăng yểm trợ. Đại bác 100 ly, đại liên 50 ly của chiến xa địch cùng các loại súng cá nhân và M-72 của đôi bên thi đua nhau nổ dòn như pháo Tết, chiến xa địch thi đua nhau cháy.

Tiểu Đoàn 1/8 Việt Nam Cộng Hoà bị thiệt hại khá nặng, Cộng quân tràn tới tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 2/8.

Trước tình thế đó, Đại Tá Mạch Văn Trường, liền tung Tiểu Đoàn 3 trừ bị đang đóng dọc trên đường Ngô Quyền, tức tốc di chuyển lên tăng viện, và chặn đứng được mũi dùi tấn công của địch quân. Cuối cùng, tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà cũng phải lùi dần về phía Nam thành phố. Thêm một số chiến xa địch bị bắn cháy, nằm lật nghiêng trên các giao thông hào của quân phòng thủ, còn bộ binh Cộng quân tùng thiết thì vội vàng bám trụ tại chỗ, chờ thêm viện quân. Tiến công được đến đây, Công Truòng 5 Cộng Sản Bắc Việt khựng lại, một số bộ binh và chiến xa còn lại không dám tiến sâu vào thêm nữa.

Chiều dần đổ xuống, màn đêm bao phủ trận địa đầy dẫy xác chết đôi bên. Thương binh của Việt Nam Cộng Hoà thì còn được các đồng đội di chuyển về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn cho y sĩ chữa trị, còn cán binh Cộng Sản thì nằm chịu trận và rên la giữa lòng quân ta chờ chết. Tiếp diễn qua ngày kế tiếp 14 tháng 04/1972 cũng y nguyên như thế. Quân Cộng Sản đã bám trụ được gần nửa thành phố phía Bắc, còn chiến xa địch thì không còn thấy xuất hiện thêm trên chiến trường.

Mỗi khi ngừng tấn công, Cộng quân lại giở tuồng cũ, tiếp tục pháo bừa bãi vào thành phố bất kể trúng quân của Việt Nam Cộng Hoà hay là quân Cộng Sản còn đang bám trụ trên gần nửa phần đất phía Bắc.

Một câu chuyện ngắn được trích trong quyển hồi ký của một Sĩ Quan thuộc Tiểu Đoàn 3/8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà viết lại như sau :

Sau khi được Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh cho toàn thể Tiểu Đoàn 3/8 di chuyển lên tuyến đầu để tăng viện cho hai tiểu đoàn bạn đang quần thảo với quân địch, đang chiến đấu từng hầm cũng như hố cá nhân, và đang lui dần về phía Nam … Chúng tôi thấy có 2 chiếc T-54 đang gầm rú vì sụp hố, cố ngoi lên, đang chỏng gọng, liền bị một lượt 2 quả M-72 khịt ra, từ các chiến sĩ Tiểu Đoàn 3/8, tức thì bốc khói, các xạ thủ và tài xế trên chiến xa địch vội nhảy thót ra ngoài, và liền bị các chiến sĩ Tiểu Đoàn 3/8 bắn hạ tức khắc. Anh em hăng máu, vác súng khơi khơi đi tìm chiến xa địch mà bắn, quên cả bộ binh địch đang bám trụ cận kề, chúng xả AK 47 bắn trả trở lại, một vài chiến sĩ phải hy sinh và bị thương tích… Địch thấy các chiến sĩ Tiểu Đoàn 3/8 xuất hiện bất thần và đánh hăng quá, chạy thối lui trở lại, nhờ vậy, nên cả 3 tiểu đoàn 1, 2, và 3 của Trung Đoàn 8 Bộ Binh mới có cơ hội chặn được địch trên một lằn ranh cố định, không bên nào lấn chiếm được tấc đất nào trong thị xã. Cho đến mãi đêm 16 tháng 04/1972 Biệt Cách Dù lên ủi địch bay ra khỏi thành phố, chiếm trở lại phần đất mặt Bắc.

Một chuyện khác cũng khá hấp dẫn : cả một tiểu đoàn địch bị chính pháo của địch pháo ngay vào tan tành hết. Nguyên do là vì tên Tiểu Đoàn Trưởng và tên sĩ quan tiền sát địch và người hiệu thính viên bị pháo địch bắn nhầm chết liền tại chỗ. Một cán bộ khác vội vã cầm máy gọi thẳng đơn vị pháo từ xa. Cán bộ này chửi thề giọng người Bắc :”Đ… m… ! Bắn nhầm vào quân ta rồi ! Ngưng pháo, ngưng pháo !” Bên kia đẩu máy hỏi lại : cho biết mã số của tiền sát viên và đơn vị ??? Cán bộ này làm sao biết được mã số của tiền sát viên và đơn vị, vì mấy nhân vật đó đã đi theo Bác rồi. Ấp a ấp úng không trả lời được, bên kia đơn vị pháo Cộng quân tưởng là đã pháo trúng đích vào quân phòng thủ (Việt Nam Cộng Hoà), và nghĩ rằng quân phòng thủ đã rà biết được tần số của pháo địch (Cộng Sản Bắc Việt) cho nên mới gọi ngừng pháo. Vi thế thay vì bắn lai rai, lại được chuyền thành pháo hoả tập, bắn liên hồi thêm cả chục tràng lên đầu các con cháu Bác và Đảng nhà mình.

6. BÌNH LUẬN VỀ CUỘC TẤN CÔNG LẦN THỨ NHẤT VÀ THỨ NHÌ
(DO CÔNG TRƯỜNG 5 CỘNG SẢN BẮC VIỆT LÀM CHỦ LỰC CHÍNH
VÀ CÔNG TRƯỜNG BÌNH LONG + 1 TRUNG ĐOÀN CỦA CÔNG TRƯỜNG 9
ĐÓNG VAI NỖ LỰC PHỤ)

6.1- ƯU KHUYẾT ĐIỄM

Cả hai đợt tấn công vào ngày 13 tháng 04 năm 1972 và ngày 15 tháng 04 năm 1972, Cộng Quân áp dụng chiến thuật tiền pháo (mưa pháo) hậu xung (biển người) và nhị thức bộ binh chiến xa.

Bàn về những ưu khuyết điểm của những chiến thuật nầy, căn cứ theo kết quả thực tế của chến trường như sau :

Ưu khuyết điểm của chiến thuật tiền pháo hậu xung và chiến thuật biển người :

A.- Chiến thuật tiền pháo :

Mục đích của chiến thuật này là :

• Tạo trận mưa pháo để san bằng và tiêu diệt các Bộ Chỉ Huy đầu não của Việt Nam Cộng Hoà và các giàn pháo binh có thể yểm trợ trực tiếp cho chiến trận, có thể gây ra nhiều tổn thất cho cán binh và chiến xa của Địch.

•Tạo ra yếu tố tâm lý khiếp đảm cho binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà không dám ngóc đầu lên, để rồi sau đó bộ binh (biển người) tràn vào tiêu diệt.

Nhưng kết quả thì trái ngược lại : Cộng quân tập trung pháo vào 4 điểm chánh như sau :

Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (tại căn cứ dã chiến gần ga xe lửa cũ) trong khi đó thì Bộ Chỉ Huy điều khiển mặt trận của Tướng Hưng đã di chuyển qua thành Đỗ Cao Trí từ ngày 07 tháng 04 năm 1972.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, tại nơi này đã có hầm (bunker) kiên cố của quân đội Mỹ xây cất trước đây còn để lại nguyên vẹn, có thể chống đỡ được các loại đạn pháo của địch,kể cả pháo 130 ly.

Vị trí của Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh Việt Nam Cộng Hoà bị thiệt hại đến 90%.

Các chiến hào phòng ngự mặt Bắc của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và mặt Đông của Biệt Động Quân đều đã được các cấp chỉ huy trực thuộc khuyến cáo các binh sĩ khi đào hầm hố đều phải có nắp che chống pháo địch bên trên. Thêm vào đó tất cả các cấp chiến binh của Việt Nam Cộng Hoà đều đã có kinh nghiệm biết được là sau khi dứt tiếng pháo thì bộ binh địch sẽ tiếp nối theo sau tấn công tràn vào, nhờ được cảnh giác như thế nên khi Cộng quân pháo thì vẫn ung dung ngồi dưới hầm có nắp che và khi Cộng quân vừa dứt các đợt pháo thì các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà lại đứng lên ghìm súng chờ Cộng quân tràn vào mà bắn hạ nên rất ít bị thiệt hại.

Kết quả thực tế là các Bộ Chỉ Huy của lực lượng phòng thủ vẫn còn nguyên vẹn, Cộng quân chỉ đạt được ¼ kết quả mong muốn, chỉ làm thiệt hại dược Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh Việt Nam Cộng Hoà mà thôi.

B.- Chiến thuật biển người :

Về chiến thuật biển người (hay nướng người) chỉ có tác dụng lấy số đông để dè bẹp đối phương ít quân hơn, như quân đội Việt Minh đã áp dụng chiến thuật này trong trận Điện Biên Phủ hồi năm 1954. Lúc đó về vũ khí của quân đội viễn chinh Pháp còn thô sơ, về pháo binh và không quân thì chưa đủ sức đập tan đoàn người liều mạng của lính Việt Minh và Tàu Cộng.. Trái lại trong trận An Lôc năm 1972, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà được trang bị đầy đủ cả về tinh thần công thêm những vũ khí cá nhân tối tân M.16, súng phóng lựu M.79, súng đại liên M.60, nhất là loại súng chống chiến xa M.72 và XM.202. Còn về Không Quân cũng rất tối tân như các trực thăng võ trang có đủ các loại súng đại liên tự động và các loại phi cơ yểm trợ hoả lực như Rồng Lữa( AC.119) của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà bắn ra hàng ngàn viên đạn trong một phút, cùng các loại C.130 của Không Lực Hoa Kỳ có thiết trí các đại bác 40 ly và 105 ly bắn điều chỉnh bằng radar bách phát bách trúng, có thể tác xạ ban ngày lẫn ban đêm từ trên cao độ trên 10,000 bộ. Thêm vào đó loại Không Quân Chiến Lược Pháo Đài Bay B.52 là loại khắc tinh của chiến thuật biển người.

Qua kinh nghiệm chiến trường, các binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã quá quen thuộc với những chiến thuật tiền pháo hậu xung của Cộng Sản, nên đã chuẩn bị hết mọi việc, từ tâm tư đến phương tiện hầm hố chiến đấu đều có nắp che. Trong lúc giao tranh khi nhận biết vừa dứt tiếng pháo hoặc chuyển pháo là đến lượt bộ binh địch sẽ tràn vào, do đó các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chuẩn bị đầy đủ các loại vũ khí tự động đề đứng dậy và chờ đợi tác xạ, chận đứng quân địch đang trên đà tiến vào.

Tóm lại, chiến thuật biển người của quân Cộng Sản Bắc Việt đã đem ra áp dụng trong trận chiến An Lộc 1972 không còn đạt được hiệu quả như trận Điện Biên Phủ năm 1954 nữa. Trái lại, chúng còn bị bộ binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cũng như Không Quân Chiến Thuật và Chiến Lược của Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ làm cỏ tận gốc rễ. Kết quả là bộ binh và chiến xa của quân Cộng Sản Bắc Việt phải bị tê liệt và thiệt hại đến 80%.

Ưu Khuyết Điểm của Nhị thức bộ binh và chiến xa :

Đây là lần đầu tiên tại chiến trường Vùng 3 Quân Khu III Việt Nam Cộng Hoà mới thấy xuất hiện chiến xa địch, trong khi đó thì lực lượng bộ binh của Cộng quân cũng là lần đầu tiên áp dụng nhị thức bộ binh chiến xa trên chiến trường Miền Nam, nên đã xảy ra trên thực tế ở trận địa này, Cộng quân không quen lối đánh hợp đồng tác chiến, là bộ binh chưa quen lối đánh tùng thiết với chiến xa. Cũng vì vậy đã xảy ra bộ binh thì lo chạy tránh pháo của Việt Nam Cộng Hoà chạy riêng rẽ bỏ mặc cho chiến xa đơn phương chạy nhanh vào thành phố nên bị các chiến sĩ phòng thủ bắn hạ toàn bộ các chiến xa bằng M.72. Cục diện từ đó bắt đầu được thay đổi, nhất là về phương diện tâm lý và ưu thế của chiến thuật : cái tâm lý tự cao quyết san bằng An Lộc của các cán binh Cộng Sản lúc ban đầu, nghĩ mình có chiến xa, và cái tâm lý hoang mang của các cấp phía lực lượng phòng thủ lúc ban đầu được đảo ngược giữa địch và ta, từ chỗ hoang mang mất bình tĩnh, các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà đâm ra tự tin bởi trong tay của mình đã có được một loại vũ khí khắc tinh diệt được chiến xa Địch, lần hồi đi đến chỗ thích thú, tự động tổ chức thành tổ 3 chiến binh xách M.72 đi lùng diệt tăng địch. Còn các cán binh Cộng Sản thì trở lại mất tinh thần khi thấy chiến xa của mình bị bắn cháy kể cả các xạ thủ và tài xế của các chiến xa cũng phải mở nắp xe nhảy ra ngoài bỏ chạy.

Yếu tố tâm lý, thật sự rất quan trọng, một dữ kiện mà cả đôi bên không ai có thể dự đoán trước hay nghĩ đến là nó có thể xảy ra trên chiến trường, kéo theo sau sự sụp đổ toàn diện của Quân Đoàn xâm lăng trong chiến dịch Nguyễn Huệ của quân Cộng Sản Bắc Việt.

Chiếu theo tài liệu trong quyển hồi ký của Thượng Tướng Cộng Sản Bắc Việt Hoàng Cầm nêu. Sở dĩ lực lượng Cộng Sản Bắc Việt không thắng được An Lộc nguyên do chánh là để MẤT THỜI CƠ làm mất đà tấn kích. Tướng Hoàng Cầm viết rằng : Sở Chỉ Huy Miền (đang đóng tại Mimot) trong đó có Tướng Trần Độ đã cử Tướng Hoàng Cầm đến Lộc Ninh gặp Tướng Trấn Văn Trà, Tư Lệnh chiến trường An Lộc, khuyến cáo là nên tấn công ngay vào An Lộc (vào ngày 08 tháng 04 năm 1972, sau 1 ngày chiếm cứ Lộc Ninh). Tướng Trà và các Tư Lệnh Công Trường 5, 7, 9 và Bình Long không đồng ý, viện lẽ cần phải thu dọn chiến trường, bổ sung quân số và nhiều việc linh tinh khác. Tướng Trà nêu lên trường hợp của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã từng áp dụng trong chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 với phương châm : Phải chuẩn bị cho thật kỹ và chỉ đánh khi chắc ăn. Vì lẽ đó mà Sở Chỉ Huy Miền phải chiều theo ý kiến của tư lệnh mặt trận. Cho mãi đến ngày 13 tháng 04 năm 1972 Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt mới khởi phát cuộc tấn công vào An Lộc (đã trễ đi mất 6 ngày kể từ khi chiếm được Lộc Ninh). (12)

Chú thích: (12) Hồi ký “Chặng đường 10,000 ngày” của Thượng Tướng Cộng Sản Bắc Việt Hoàng Cầm, trang 280-281

Sở Chỉ Huy Miền quân Cộng Sản Bắc Việt là cơ quan giám định và nghiên cứu chỉ đạo chiến trường, cao cấp hơn tư lệnh chiến trường có lý do và nhận định đúng theo tình hình, là cần phải đốt giai đoạn tấn công gấp vào An Lộc sớm chừng nào tốt chừng đó, vì sợ nếu kéo dài thêm thời gian, phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà sẽ có thêm thời giờ đổ quân tăng viện.

Thực vậy, nếu Tướng Trà và các Tư Lệnh Công Trường nghe theo lời khuyến cáo của Sở Chỉ Huy Miền tiếp tục tiến công về phiá Nam thì nội trong ngày 09 tháng 04 năm 1972 có thể xua toàn thể 5 Trung Đoàn Bộ Binh và 1 Tiểu Đoàn Chiến Xa T.54 và PT.76 tràn ngập và đè bẹp Trung Đoàn 7 (-) ở phía Tây, Biệt Động Quân + Địa Phương Quân Việt Nam Cộng Hoà ở phía Bắc đang bố phòng trên trận tuyến rất mỏng. Đợi mãi đến sáng ngày 13 tháng 04 năm 1972 mới chính thức khai hoả tấn công thì đã quá trễ. Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đã được trực thăng vận đổ vào An Lộc vào ngày 11 và 12 tháng 04 năm 1972. Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà lại có trong tay trên 2,000 khẩu súng chống chiến xa M.72 với 2, 500 tay súng gan lỳ
(trong đó có 400 Lao Công Đào Binh quyết tử).

Nếu Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà chưa kịp đổ vào thì làm sao có trên 2,000 khẩu súng M.72 và 400 Lao Công Đào Binh để bắn cháy xe tăng của Cộng Quân.

6.2 NHẬN ĐỊNH

Những nguyên do chính đem đến sự thiệt hại trầm trọng về nhân mạng cán binh Cộng Sản Bắc Việt và thiết giáp T.54 của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt có thể căn cứ vào 3 yếu tố sau đây :

1.- Do nhận định sai lầm của Ban điều nghiên trận địa Cộng Sản Bắc Việt về vị trí Bộ Chỉ Huy đầu não của Tướng Hưng, Cộng Quân đã tập trung pháo trên 1,000 quả đạn 130 ly và hoả tiễn 122 ly cũng như gửi cả tiểu đoàn đặc công của Cục R, pháo và đánh vào chỗ không người. Lực lượng trấn thủ của Việt Nam Cộng Hoà tại phiá Bắc thì Cộng Sản tưởng chỉ có 1 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long mà thôi, nhưng trái lại tại phía Bắc, quân Cộng Sản Bắc Việt phải chạm trán với nguyên Trung Đoàn hùng mạnh của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà vớI 2, 500 tay súng trong đó Trung Đoàn 8 Bộ Binh còn có trên 2,000 khẩu M.72 là khắc tinh của các loại chiến xa. Trung Đoàn 8 còn có 30 Tổ Khinh Binh đã bắn cháy 12 chiến xa T.54 của địch ngay trong trận tấn kích đầu tiên vào ngày 13 tháng 04 năm 1972.

2.- Yếu tố tâm lý đảo ngược giữa lực lượng tấn kích Cộng Sản Bắc Việt và lực lượng phòng thủ Việt Nam Cộng Hoà :

ĐỊCH : Sau khi chiếm lĩnh Lộc Ninh, tinh thần cán binh Cộng Sản Bắc Việt lên cao đến chỗ tự mãn và khinh địch, nghĩ rằng sẽ quét sạch lực lượng phòng thủ một cách nhanh chóng và dễ dàng, nhất là bên cạnh có cả tiểu đoàn chiến xa T.54 đi tiên phong tấn công kịch liệt vào mặt trận phía Bắc thành phố. Cổ nhân có câu :Nếu ai khi thắng mà sinh lòng kiêu thì khi bại cũng hay dể nản lòng để mất đi hết ý chí chiến thắng.

BẠN : Những cấp chỉ huy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã nhận biết rõ các ưu điểm của địch và đã có cách khắc chế .

3.- Yếu tố thờI cơ : Thật sự Cộng quân đã để mất thời cơ. Kiểm điểm lại diễn tiến trận đánh Lộc Ninh vào chiều ngày 04 tháng 04 năm 1972 (khởi phát cuộc tấn công Lộc Ninh) và đến chiều tối ngày 07 tháng 04 năm 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt đã làm chủ được tình hình Lộc Ninh. Nếu Tướng Trà và các Tư Lệnh các Công Trường Cộng Sản Bắc Việt chịu nghe theo sự khuyến cáo của Sở Chỉ Huy Miền cho tiếp tục xua quân tiến thẳng và đến được An Lộc vào khoảng ngày 09 tháng 04 năm 1972 thì chắc chắn đã chọc thủng được phòng tuyến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, vì lúc đó lực lượng phòng thủ ở mặt phía Bắc chỉ có nhiều nhất là một tiểu đoàn của Biệt Động Quân + Địa Phương Quân được trải mỏng và trong tay lại không có loạI vũ khí chống chiến xa M.72.

7. PHẢN ỨNG CỦA BỘ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 5 BỘ BINH VIỆT NAM CỘNG HOÀ

CHUẨN TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG VÀ CỐ VẤN TRƯỞNG ĐẠI TÁ WILLIAM MILLER

7.1 TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG :

Tại hầm chỉ huy (trại Đỗ Cao Trí), ngay khi vừa đặt chân xuống An Lộc, nhận định được tình hình tại mặt trận, Tướng Hưng ra lệnh cho tất cả các đơn vị trực thuộc phải tử thủ, nhất quyết chiến đấu đến cùng, thề không rút lui.

Ông đã biểu lộ quyết tâm, và ra sức chỉ thị đôn đốc các đơn vị tại mặt trận. Ông đã tỏ ra rất hăng say, ông cởi phăng chiếc áo trận có gắn một sao hai bên bâu áo, để lộ bên trong còn lại chiếc áo thun màu xanh rong biễn, khoác bên ngoài chiếc áo giáp hai bên có giắt 2 quả lựu đạn M-26, quyết ăn thua đủ với quân Cộng Sản Bắc Việt, trong trường hợp chúng mò đến được hầm chỉ huy, áo giáp lại không cần kéo Zip, để hở ngực, chân thì luôn luôn không rời khỏi đôi giầy trận, làm việc không ngừng nghỉ trong suốt thời gian cuộc chiến (07/04/1972 đến 07/07/1972).

Dưới quyền chỉ huy của vị Tư Lệnh Mặt Trận An Lộc, Tướng Hưng có trong tay :

A.- Giai đoạn đầu :

• Trung Đoàn 7 (-) Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trách nhiệm phòng thủ tuyến phía Tây An Lộc

• Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, trách nhiệm phòng thủ phía Bắc và phía Đông

• Chiến Đoàn 52 (-) Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà từ căn cứ Cầu Cần Lê rút về, đóng quân ở trung quân làm trừ bị

• Tiểu Khu Bình Long trách nhiệm phòng thủ phía Nam.

B.- Giai đoạn 2 :

Được Quân Đoàn 3 tăng cường thêm cho Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trấn thủ toàn diện tuyến phòng thủ phía Bắc, thay thế Biệt Động Quân, dồn về phía Đông.

C.- Giai đoạn 3 và đến khi chấm dứt cuộc chiến :

Được Quân Đoàn 3 tăng cường thêm :

• Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, trấn đóng tuyến phòng thủ phía Nam cùng với Tiểu Khu Bình Long

• Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, tăng cường cho mặt trận phía Bắc cùng với Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Đó là những đơn vị cấp Trung Đoàn, có trên tần số truyền tin liên lạc 24/24 với Bộ Chỉ Huy của Tướng Hưng, thường xuyên báo cáo về tình hình trên tuyến phòng thủ trách nhiệm, và xin không quân chiến thuật yểm trợ tiếp cận hay trong khi lâm trận. Tướng Hưng còn có nhiệm vụ ghi nhận, những tin tức và yếu tố cần thiết từ các đơn vị trực tiếp gọi, để ông trình về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 xin những phi vụ (Box) B-52 thuộc Không Quân Chiến Lược của Hoa Kỳ, trước 48 tiếng đồng hồ cho mỗi lần yêu cầu.

7.2 ĐẠI TÁ WILLIAM MILLER:

Vị Cố Vấn Trưởng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, rất tận tình trong chức vụ trong suốt thời gian của trận chiến, tuy ngay ngày đầu tiên khi cùng Tướng Hưng đặt chân xuống An Lộc, Ông có cảm giác là Bộ Chỉ Huy Dã Chiến (cũ) không được an toàn, ông đòi rút toán cố vấn về Lai Khê. Lúc mới nghe thì giống như Ông muốn làm khó dễ Tướng Hưng, nhưng đến khi nghe Tướng Hưng thốt lời thật tình tâm huyết là Sư Đoàn rất cần cố vấn Mỹ trong lúc này, để giúp đỡ vấn đề không yểm, và sau khi đi theo Tướng Hưng đến quan sát căn hầm mới đang bỏ hoang (trại Đỗ Cao Trí), Ông đồng ý ở lại cùng Tướng Hưng, và cùng sát cánh bên cạnh Tướng Hưng suốt gần hết cuộc chiến, rất tận tình, không chút than van.

Đôi khi Ông thức suốt nhiều đêm, để điều khiển không quân đánh bom, hay chỉ điểm cho C.130 bắn diệt chiến xa Địch, nhất là vào những đợt tấn công của địch vào các tuyến phòng thủ của quân Bạn. Nhiều khi đang mơ màng vừa mới đặt lưng xuống nghỉ tạm, thì bị Tướng Hưng gọi giựt mình ngồi dậy … Miller … Miller …ông vội vàng trả lời Yes…Yes … General … đó là giọng điệu hàng ngày lẫn đêm. Hai người gọi, rất là thân tình và kèm theo sự kính trọng tài năng lẫn nhau, dù rằng trước đó vài ngày hai vị có chút bất đồng về vụ Đại Tá Miller có nêu lên việc có nên thay thế Đại Tá Vĩnh, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà hay không, dựa theo báo cáo của cố vấn trưởng Trung Đoàn 9, vì cố vấn trưởng Trung Đoàn 9 nghi ngờ là Đại tá Vĩnh sẽ đầu hàng địch thay vì tử thủ tại Lộc Ninh.

Do sự tận tụy và thân tình đó, các phi vụ oanh kích, oanh tạc của các phi tuần phản lực Hoa Kỳ cất cánh từ hai Hàng Không Mẫu Hạm, đậu ngoài khơi Biển Thái Bình Dương, đã được hướng dẫn một cách rất là chính xác và có hiệu quả rất cao. Địch quân phải chịu tổn thất rất nặng nề, về nhân mạng cũng như về chiến cụ. Thêm vào đó những Box B-52, phi cơ xuất phát từ căn cứ đặt tại Đảo Guam, trải thảm bom hàng ngàn tấn trên đầu quân Cộng Sản Bắc Việt. Khi thì làm nổ hàng giờ các kho đạn dã chiến Cộng Quân khi thì đánh trúng vào cả giàn pháo binh 130 ly và những giàn phóng hoả tiễn của Cộng Quân, lúc lại đánh trúng ngay vào cả 1 trung đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt có T-54 và PT-76, đang hùng hổ tiến gần sát tuyến phòng thủ cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Đúng là loại không quân khắc tinh cho chiến thuật biển người của Cộng quân đang áp dụng, là loại thần dược trị bá bệnh do Cộng quân gây ra tại An Lộc. Một phi vụ (hay là Box) của B-52 có 3 chiếc, trải thảm bom, chồng mép lên nhau (overlap) có tầm sát hại chiều ngang 1 cây số và chiều dài 3 cây số. Trước khi bom gần tới đất, gây ra tiếng gió rít, lạnh cả người tưởng chừng như tiếng quỷ hú, và sau khi chạm đất nổ tung mịt mù cát bụi, khi tan khói bụi, thì nhìn thấy lố nhố hố bom, loang lổ to hơn cái ao, xung quanh thì không còn một thứ gì còn đứng vững, vì đã trộn lẫn vào đất cát tan tành, Cộng quân gọi những hố bom này là bom đìa, vì hố bom to gần bằng một cái ao nước, Chiến xa T.54 hay PT.76 của Cộng quân cũng không ngoại trừ.

(Theo tài liệu của tác giả James Willbanks, Đại Tá Miller đã rời An Lộc vào ngày 10 tháng 05 năm 1972 để đi đáo nhiệm một chức vụ mới. Đại Tá Miller được Trung Tá Walter Ulmer thay thế).

8. PHẢN ỨNG CỦA BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3/ QUÂN KHU III

Tình trạng An Lộc lúc đó, được ví như một quả tim trong lồng ngực, chứa đựng khoảng 4, 200 giọt huyết quản của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà quyết tử thủ, và khoảng 8,000 giọt máu của dân, cán, chính tỉnh Bình Long, quyết sống chết với quân thù Cộng Sản phương Bắc, đang thoi thóp thở từng hồi, theo từng đợt tấn công của địch, dưới sức ép bủa vây của khoảng trên 37,000 Cộng Sản Bắc Việt bao phủ cả 4 mặt bên ngoài.

Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn 3/ Quân Khu III, vị tổng chỉ huy chiến trường An Lộc, ví như là vị y sĩ giỏi, đang chữa trị cho con tim vĩ đại đó tiếp tục được tồn tại, cần phải làm cho nhịp tim được đập đều đặn trở lại bình thường, bằng cách bơm thêm sức, vô thêm máu, cho vào con tim đó, với những loại máu thích hợp cho cơ thể con bệnh An Lộc, và cũng là những loại máu khắc tinh đối với Cộng quân, có nghĩa là phải lập tức châm thêm quân vào An Lộc sao cho kịp lúc kịp thời. Những chiến sĩ Nhảy Dù và Biệt Cách Nhảy Dù, là những đơn vị thiện chiến nhất, hiện đại nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cũng là những binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khắc tinh đối với quân Cộng Sản Bắc Việt.

Căn cứ vào nguồn tin kiểm thính mật mã của đơn vị Biệt Đội Mật Mã Phòng 6 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III. đặt tại Lai Khê, bản doanh hành quân điểu khiển chiến trường An Lộc, có thể biết được, hầu hết các tin tức, về danh tánh đơn vị, và mọi sự điều động quân, cũng như ý định trước khi tấn công, của các đơn vị cấp Sư Đoàn, cấp Trung Đoàn của địch đểu được đơn vị mật mã kiểm thính thu nhận và giải đoán, và được trình lên tức thời cho Trung Tướng Nguyễn Văn Minh và bộ tham mưu hành quân Quân Đoàn tường tận, để nghiên cứu và hoạch định kế hoạch ứng phó:

Tin kiểm thính ghi nhận : toàn bộ Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt đã tung hết vào trận chiến, đang bị Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà cầm chân tại mặt trận phía Bắc tỉnh lỵ,không còn khả năng tiến xa thêm được, ngoài 1/2 diện địa đã bám trụ được; Công Trường Bình Long được tăng cường thêm Trung Đoàn 272 của Công Truờng 9 Cộng Sản Bắc Việt, tấn công mặt trận phía Đông thị trấn, cũng đã bị Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà cầm chân, không thể lấn xa hơn được, đành phải bám dùi tại chỗ; còn ở mặt trận phía Tây, Công Trường 9 (-) Cộng Sản Bắc Việt cứ di chuyển tới lui để tránh né phi cơ đồng minh oanh kích, ở mặt trận phía Nam, vùng trách nhiệm của Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, đã cắt cử Trung Đoàn 209 cho mặt trận Tàu Ô ở phía Nam Quốc Lộ 13, còn lại 2 trung đoàn Bộ Binh, được bố trí hai bên Quốc Lộ 13, khoảng 4 cây số về phía Nam, Trung Đoàn 165 ở bên cánh phải, vùng Xa Cam Xa Trạch, Trung Đoàn 141 bên cánh trái, vùng Ấp Srok Gòn (tính từ Bắc xuống Nam), cả hai trung đoàn nầy vẫn còn ẩn phục phía Nam, để chờ bắt sống đoàn quân tháo lui của Việt Nam Cộng Hoà rút về Lai Khê hay Bình Dương nếu có xảy ra, hoặc đợi khi có lệnh, làm nỗ lực chính tấn công từ mặt phía Nam lên.

Đó là tình hình trận liệt của địch tính đến chiều ngày 13/04/1972.

Sau khi nhìn bản đồ trận liệt địch, Tướng Minh nhận thấy, về phía Đông Nam, lực lượng địch gần nhất trong vòng chu vi 4 cây số vuông, khu vực Đồi Gió, Đồi 169 và những thung lũng kề cận, chỉ có Trung Đoàn 141 Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt là có thể có khả năng bôn tập, để cản trở việc đổ quân Dù và Biệt Cách Dù tăng viện cho An Lộc, phía Đông Nam. Muốn đối phó với hiểm hoạ có thể có, từ đơn vị Trung Đoàn 141 Công Trường 7, ta cần phải có kế hoạch nghi binh, làm sao để cho đơn vị Cộng quân nầy phải tự động rút đi, để cho việc đổ quân Dù và Biệt Cách Dù được an toàn hơn.

Chiều ngày 13 tháng 04 năm 1972, Tướng Minh chỉ thị cho Phát Ngôn Viên Quân Đoàn 3 trở về Sài Gòn, tại địa điểm họp báo số 49 đường Nguyễn Lâm Quận 10 Thành Phố Sài Gòn, để họp báo như thường lệ mỗi đêm vào khoảng 7 giờ tối.

Khi tin tức thu nhận được từ Đài Phát Thanh Hà Nội sẽ chiếm cứ An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972 để ra mắt cái Chính Phủ gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và tiếp theo bản tin diễn tiến chiến sự, do Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 phổ biến, ngày 12 tháng 04, căn cứ Cầu Cần Lê đã được lệnh rút lui, và trên đường rút lui của Chiến Đoàn 52 (-) Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đang bị 2 trung đoàn của địch bao vây ngăn chặn, giao tranh ở cường độ ác liệt, các đặc phái viên của các báo quốc nội cũng như các hãng thông tấn xã ngoại quốc như AP, UPI, AFP, REUTER đều có cảm nghĩ rằng quân Cộng Sản Bắc Việt đang áp sát vào An Lộc, và rất trông chờ bản tin chiến sự nóng bỏng nhất vào buổi tối ngày 13 tháng 04 năm 1972.

Bản tin tường trình về tình hình chiến sự tại mặt trận An Lộc với các ký giả quốc nội và đặc phái viên các hãng thông tấn ngoại quốc hiện diện, được Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh, Phụ Tá Hành Quân Tư Lệnh Quân Đoàn kiêm Phát Ngôn Viên Quân Đoàn 3/ Quân Khu III phổ biến, sau khi hội ý và thảo luận với vị Tư Lệnh Quân Đoàn và Bộ Tham Mưu, từ Lai Khê lái xe về Sài Gòn, với hành trang cho cuộc họp báo thật đặc biệt, vì sáng sớm ngày 13/04, Cộng Quân đã chính thức mở cuộc tấn công vào mặt Bắc An Lộc.

Cuộc họp báo lần nầy có hai phần rất quan trọng, được trình trước Quốc Dân Việt Nam Cộng Hoà qua các nhật báo quốc nội, và trước dân chúng toàn thế giới qua các hãng thông tấn quốc tế :

Phần thứ nhất : về diễn tiến tình hình chiến sự trong ngày 13 tháng 04 năm 1972, có đính kèm theo phóng đồ hành quân trận mạc, mặt trận phía Bắc An Lộc, và cuộc quần thảo giữa 2, 500 quân của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà với 12,000 quân của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, và mặt phía Đông giữa Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà với Công Trường Bình Long + Trung Đoàn 272 Cộng Sản Bắc Việt .

Phần thứ nhì của cuộc họp báo cũng là phần chính, cần phải đạt được, là phần phản ứng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 ra sao trước tình hình như hiện tại :

Trung Tá Ánh lãnh chỉ thị của vị Tư Lệnh Quân Đoàn phát biểu như sau :

Theo tin từ một thương binh cấp Tiểu Đoàn , của Công Trường Bình Long Cộng Sản Bắc Việt, được các chiến sĩ của Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân cứu cấp hôm 11 tháng 04 năm 1972 cho biết : Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ (vùng 3) cùng vài nhân vật nòng cốt của Cục R (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) từ Lộc Ninh đã di chuyển đến vùng phi trường Quản Lợi, chỉ cách An Lộc khoảng 5 cây số về phía Đông, chỉ có 1 tiểu đoàn đặc công thiện chiến có tên là Tiểu Đoàn Đặc Công của Cục R để bảo vệ. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã trình về Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà xin cấp thời cho thả dù Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vào phía Đông Bắc An Lộc (phía sau lưng của Trung Ương Cục Miền Nam), để tóm gọn cái chính phủ bù nhìn và bắt sống tướng Trần Văn Trà.

Một câu hỏi của một ký giả ngoại quốc: kế hoạch thả Biệt Cách Dù vào sau lưng Cục R chừng nào mới thực hiện ? Trung Tá Ánh trả lời : vào sáng sớm tinh suơng ngày mai (ngày 14 tháng 04 năm 1972). Cuộc họp báo được kết thúc vào khoảng 8 giờ tối cùng ngày, và vào khoảng 10 giờ đêm tin tức Biệt Cách Dù sẽ được thả bọc phía sau Trung Ương Cục Miền Nam, đã làm chấn động cả thế giới, cặp bài trùng Kissinger và Lê đức Thọ người thì chỉ thị cho phối kiểm lại, người thi vội điện tin về Hà Nội gấp rút thông báo ngay cho Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn của Tướng Trần văn Trà chuẫn bị đề phòng !!!

Kiểm điểm lại thực lực phòng vệ cho Cục R lúc bấy giờ, các đơn vị bộ binh cơ hữu cận kề đều bị kẹt hết tại các giáp tuyến trên trận tiền, với Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân và Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, không còn được nguyên vẹn về quân số tác chiến và khả năng di động, để có thể rút về bảo vệ cho Bộ chỉ huy đầu não Cục R. Thời gian chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là Biệt Cách Dù, sẽ được thả xuống trận địa. Nghe tin Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẽ đến trong vài giờ sắp tới, và đơn vị bảo vệ hiện thời chỉ có vào khoảng 400 cán binh (tiểu đoàn đặc công Cục R) thì không thể nào đương cự nổi !!! Duyệt lại cấp thời các cánh quân, chỉ còn duy nhất có Trung Đoàn 141 Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, đang bố trí quân ở ấp Srok Gòn, phía Tây Nam Bộ Chỉ Huy cục R, khoảng 8 cây số, là đơn vị thiện chiến cấp Trung Đoàn còn sinh lực đầy đủ, cũng như tính cơ động cao, của quân Cộng Sản Bắc Việt, mới có đủ thời giờ và thực lực, di chuyển về tăng cường bảo vệ Cục R để ngăn cản Biệt Cách Dù mà thôi.

Như vậy Cộng quân đã trúng kế Điệu Hổ Ly Sơn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, bỏ trống cả một vùng 4 cây số vuông phía Đông Nam, dùng cho việc đổ quân bằng trực thăng vận: Lực Lượng Nhảy Dù vào các ngày 14 và 15 tháng 04 năm 1972, và Lực Lượng Biệt Cách Dù vào ngày 16 tháng 04 năm 1972 đưọc an toàn 99%.

Việc Trung Đoàn 141 Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt rời ấp Srok Gòn để rút về bảo vệ Cục R, được chứng minh qua đoạn văn trong bài phóng sự “An Lộc Chiến Trường Đi Không Hẹn” của tác giả Biệt Cách Dù Phạm Châu Tài, là nhân chứng sống hiện đang cư ngụ tại Hoa Kỳ, viết lại như sau : Liên Đoàn 81 Biệt Cách được lệnh nhảy vào An Lộc vào trưa ngày 16 tháng 04 năm 1972. (13)

[sup] (13) [/sup Đặc san Biệt Cách Dù số Đại Hội năm 1998 đề mục “ An Lộc Chiến Trường Đi Không Hẹn” của tác giả Phạm Châu Tài trang 73 (Xin xem Phần Phụ Đính).

Đúng như lời Phát Ngôn Viên Quân Đoàn 3 đã phát biểu với báo chí, sáng sớm ngày 14 tháng 04 năm 72, hàng chục chiếc C.123 và C.130 của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có mặt trên vùng trời phía Đông Bắc An Lộc trên cao độ ngoài tầm của các loại súng phòng không của Cộng quân, Tung ra những cánh hoa dù rợp cả một góc trời. Thiên Thần Mũ Xanh Biệt Cách Dù (giả) vì chiếc dù thì thiệt 100%, nhưng những chiến binh đang tòn ten dưới dù toàn là những hình nộm được kết bằng thứ vật liệu đủ nặng tương đương với sức nặng một người. Đến khoảng 9 giờ sáng ngày hôm đó, Cộng quân (Trung Đoàn 141 Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt) tạo được một vòng đai phòng thủ bên ngoài, và Tiểu Đoàn đặc công có trách vụ bảo vệ tuyến cận kề, đề sẵn sàng nghênh chiến từ hướng Đông Bắc nơi Biệt Cách Dù (giả) được thả xuống, rút đầu dưới công sự chiến đấu, và sẵn sàng các yếu tố pháo binh tiên liệu trước tuyến phòng thủ. Chờ khi màn đêm đổ xuống, thì lại càng hồi hộp lo âu, lo ngại lối đánh đêm của Biệt Cách Dù. Rồi trời lại sáng, cũng vẫn không thấy Biệt Cách Dù động tịnh nổ súng, không biết Biệt Cách Dù, sau khi xuống tới trận địa rồi di chuyển đi đâu, di chuyển đánh bọc vào sườn phải hay sườn trái hay đánh thọc lại ngay sau lưng. Tại Bộ Chỉ Huy đầu não, Trung Ương Cục R, gọi máy liên hồi để dò hỏi tin tức Biệt Cách Dù, tầt cả đang trong tình trạng phập phồng lo sợ bị Biệt Cách Dù xuất hiện bắt sống.

Đến lúc này thì cũng đã qua 3 ngày đêm. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, đã hoàn tất việc đổ quân. Hai lữ đoàn tinh nhuệ Dù và Biệt Cách Dù đã vào được An Lộc, để kiện toàn tổ chức phòng thủ : chiếm lại được 1/2 lãnh thổ phía Bắc và mở rộng vòng đai phòng thủ thêm 2 cây số về phía Nam.

Như vậy thì Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, đã hoàn thành chiến pháp, gọi là Điệu Hổ Ly Sơn. Mục đích của kế hoạch này là tăng cường cho chiến trường An Lộc thêm được 3,000 quân thiện chiến {2450 Thiên Thần Mũ Đỏ (Dù) và 550 Thiên Thần Mũ Xanh (Biệt Cách Nhảy Dù)}.Như vậy thì con tim vĩ đại An Lộc được cứu tỉnh, nhịp đập được trở lại bình thường, sẵn sàng đẩy lui bất cứ cuộc tấn công nào trong những ngày kế tiếp của Cộng quân.

Ngày 19 tháng 04 năm 1972, tại Bản Doanh Hành Quân Tiền Phương Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III đang đóng tại căn cứ Lai Khê, tỉnh Bình Dương, Trung Tướng Nguyên Văn Minh phát biểu với báo chi trong và ngoài nước :”An Lộc đã trải qua hồi nguy kịch. Tuy nhiên chúng tôi vẫn còn phải cẩn trọng, vì còn nhiều ngàn dân chúng còn đang kẹt trong vòng lửa đạn đôi bên, và thường xuyên Cộng quân không ngừng pháo kích vô tội vạ, cả ngày lẫn đêm, đã tạo nhiều tang thương chết chóc và gây ra rất nhiều thiệt hại cho dân chúng trong thành phố.

Trong hai đợt tấn công đợt 1 vào ngày 13 tháng 04 năm 1972 và đợt 2 vào ngày 15 tháng 04, kéo dài qua ngày 16 tháng 04 năm 1972, Cộng Quân đã lấn chiếm và bám trụ được 1/2 diện địa phía Bắc và phía Đông thành phố. Mặc dù cả hai Công Trường 5 và Bình Long cộng thêm 1 thành phần của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt cố tình muốn san bằng An Lộc, nhưng bị sức đề kháng dũng mãnh của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Sư Đoàn 5 Việt Nam Cộng Hoà ở phía Bắc và các chiến sĩ Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà ở phía Đông cầm chân, không sao tiến thêm được nữa, một phần bị tổn thất quá nặng nề, ước lượng mức tổn thất về nhân mạng hơn hai trung đoàn bộ chiến, và trên 30 chiến xa T.54 bị bắn cháy hay bị bắt sống.

Về phía Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cũng bị tổn thất khá nặng, tính chung cả Trung Đoàn 8 Bộ Binh và Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà bị thiệt hại khoảng 35% quân số.cộng thêm các khẩu pháo 105 và 155 ly của Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh Việt Nam Cộng Hoà bị pháo địch gây hư hại đến 98%.

9. ĐỔ QUÂN TĂNG VIỆN CHO MẶT TRẬN AN LỘC

Cuộc đổ quân tăng viện nhằm hai mục đích :

1.- Trực thăng vận tăng cường cho quân phòng thủ tại An Lộc : Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.

2.- Thiết lập căn cứ hoả lực Tân Khai (12 cây số Nam An Lộc), dùng làm bàn đạp (cứ điểm) để trực thăng vận Trung Đoàn 31 và Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh cùng Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà để rút ngắn đoạn đường tiến gần An Lộc và công phá chốt Tàu Ô.

Trung Tướng Nguyễn Văn Minh đương kim Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III kiêm Tư Lệnh Chiến Trường An Lộc năm 1972, khi còn là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà tạI Khu 42 Chiến Thuật vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, đã được nổi tiếng là một tướng tài giỏi trong chiến thuật trực thăng vận, cũng là vị tướng đã đào tạo ra NGŨ HỔ TƯỚNG MIỀN TÂY : Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Lưu Trọng Kiệt, Lê Văn Dần, Vương Văn Trổ (từ năm 1965 đến 1968). Cho đến năm 1972 còn được Tướng Lê Văn Hưng , Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Đoàn 3 đang trấn thủ An Lộc, và theo đoàn quân tăng viện của Quân Đoàn 4 còn có Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà.

Trung Tá Lưu Trọng Kiệt và Trung Tá Lê Văn Dần đã tử trận trên chiến trường Miền Tây vào khoảng năm 1967, Tướng Lê Văn Hưng và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh hùng tuẫn tiết trong những ngày Tháng Tư Đen 30 tháng 04 năm 1975. Chỉ còn lại Trung Tá Vương Văn Trổ là người duy nhất trong ngũ Hổ Tướng Miền Tây còn sống sót và đang cư ngụ tại thành phố Houston, Texas, Hoa Kỳ.

9.1 TRỰC THĂNG VẬN TĂNG CƯỜNG LỮ ĐOÀN 1 NHẢY DÙ THAM CHIẾN

Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, đang quần thảo với địch quân trong gần suốt tuần qua tại vùng Suối Tàu Ô, được lệnh rút về quận Chơn Thành, cấp tốc bổ sung và trang bị, chờ lệnh trực thăng vận vào tham chiến tại An Lộc.

Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù bàn giao trận địa lại cho Trung Đoàn 32 Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đảm trách.

Sáng ngày 14 tháng 04 năm 1972, Đại Tá Lê Quang Lưỡng được triệu hồi về họp tại cứ điểm Lai Khê. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, cho biết tình hình mới nhất tại An Lộc, sau hai lần tấn công của địch quân. Tướng Minh cũng khuyến cáo, nơi có thể đổ quân tương đối an toàn là vùng Đông Nam khu vực Đồi Gió và Đồi 169, Ông cho biết , các đơn vị bạn đang tử thủ bên trong, cần một luồng sinh khí mới đổ vào. Đơn vị được tuyển chọn hiện nay, chỉ có Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù là đủ khả năng tiến vào An Lộc để đột phá vòng vây … Sau đó con chim đầu đàn của Lữ Đoàn 1 Dù cùng vài sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Đoàn 1 Dù lên trực thăng bay quan sát tìm bãi đổ quân.

Ngay buổi trưa hôm đó, Đại Tá Lưỡng quyết định cho trực thăng vận Tiểu Đoàn 6 Dù xuống ấp Srok Ton Cui tọa lạc dưới chân đồi 169, 4 cây số Đông Nam An Lộc, để giữ an ninh bãi đáp cho ngày hôm sau (15 tháng 04 năm 1972), toàn bộ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 cùng 2 Tiểu Đoàn 5 và 8 Dù đổ quân kế tiếp.

Tiểu Đoàn 6 Dù, sau khi hoàn thành nhiệm vụ an ninh bãi đáp, liền để lại 1 đại đội giữ an ninh đầu ấp Srok Ton Cui dưới chân đồi, còn Tiểu Đoàn (-) , di chuyển lên chiếm lĩnh cao điểm Đồi Gió và Đồi 169, để làm lực lượng bảo vệ cho Pháo Đội Dù (6 khẩu 105 ly nòng ngắn), cấp thời lập thành một căn cứ hoả lực dã chiến, để yểm trợ cho toàn thế mặt trận An Lộc (giai đoạn này Tiểu Đoàn Pháo Binh 52 của Việt Nam Cộng Hoà và Trung Đội Pháo Binh của Tiểu Khu Bình Long chỉ còn sót lại 1, 2 khẩu xử dụng được mà thôi).

Lữ Đoàn 1 Dù được đổ xuống trận địa do Không Đoàn Trực Thăng 43 Sư Đoàn 3 Không Quân đảm trách. Vị sĩ quan đại diện Không Đoàn 43 là Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức trách nhiệm toàn bộ việc đổ quân và tản thương trên toàn mặt trận An Lộc.

Sau khi xuống được trận địa an toàn, Đại Tá Lưỡng , điều động quân Dù chia làm 2 cánh, song song tiến vào An Lộc. Tiểu Đoàn 8 bên cánh trái do Trung Tá Lương Bá Ninh Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy, tiến thẳng về 2 cây số phía Nam thành phố, vượt ngang qua Quốc Lộ 13, tiêu diệt một vài đơn vị Cộng Sản Bắc Việt đang bám trụ tại đây, rồi dừng chân trong rừng cao su bên sườn phải (tính từ Bắc xuống Nam cạnh Quốc Lộ 13), còn Tiểu Đoàn 5 Dù, do Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy, tiếp tục dừng quân, bên sườn trái, song song với Tiểu Đoàn 8 Dù, tạo thành một tuyến bất khả xâm phạm trong khu rừng cao su, 2 cây số phía Nam An Lộc, mà Cộng quân không ngờ được, âm thầm đào hầm hố phòng thủ, đồng thời gửi các toán thám sát bung rộng vòng đai phòng thủ của thị trấn ra thêm hơn về phía Nam, còn Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Dù cũng được Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà hướng dẫn đến gặp Tướng Hưng tại căn cứ trại Đỗ Cao Trí.

Tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, ngoài Tướng Hưng còn có Đại Tá Vỹ, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Đại Tá Trường, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Đại Tá Nhựt, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Long và các cố vấn Mỹ của SĐ 5 và lực lượng Nhảy Dù. Sau đó , Tướng Hưng chỉ thị cho Bộ Chỉ Huy Dù di chuyển về trú đóng cùng căn hầm phòng thủ của Tiểu Khu ở phía Nam. Như vậy là mặt phía Nam bây giờ trở thành mạnh nhất do 1,450 quân Dù tinh nhuệ trấn thủ với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1, và 2 Tiểu Đoàn 5 và 8 Dù. Còn Tiểu Đoàn 6 Dù cùng pháo đội pháo binh Dù đang trú đóng trên căn cứ Pháo Binh tại sườn đồi Gió và đồi 169 . Tướng Hưng đã trút đi được phần nào lo âu về mặt trận phía Nam. (14)

Chú thích : (14) Nhật Ký Hành Quân của Quân Đoàn 3 về trận chiến An Lộc năm 1972.

9.2 BIỆT CÁCH DÙ THAM CHIẾN

Đến ngày 16 tháng 04 năm 1972, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được tăng viện cho chiến trường An Lộc, và khởi phát cuộc phản công tái chiếm lại 1/2 lãnh thổ phía Bắc, Từng hợp đoàn trực thăng HU1D cất cánh từ căn cứ Lai Khê vào trưa ngày 16 tháng 04 năm 1972, đưa 550 thiên thần mũ xanh Biệt Cách Nhảy Dù đến chiến trường An Lộc một cách an toàn.

Bãi đổ quân được chọn trên một khoảng ruộng trống, về phía Tây tỉnh lộ 245, cách Đồi Gió 1 cây số về phía Đông Bắc.

Hợp đoàn trực thăng từng đợt 10 chiếc HU1D cho mỗi đợt đổ quân, có 4 trực thăng võ trang hộ tống. Đợt đầu , thả Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Trung Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và 4 Toán Trinh Sát của Liên Đoàn do Trung Úy Lê Văn Lợi chỉ huy và Đại Đội 1 do Đại Úy Nguyễn Ích Đoàn chỉ huy, Đại Đội 2 do Đại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy. Chuyến thứ hai gồm có Liên Đoàn Phó, Thiếu Tá Nguyễn Văn Lân cùng Đại Đội 3 do Đại Úy Phạm Châu Tài có biệt danh là Hổ Xám chỉ huy và Đại Đội 4 do Đại Úy Đào Minh Hùng chỉ huy.

Sau khi kiểm điểm quân đầy đủ, Trung Tá Huấn liền cho lệnh các đơn vị di chuyển đến chiếm cứ Ấp Srok Gòn, cận kề bên bãi đổ quân, dừng quân, bố trí xong xuôi, Trung Tá Huấn, mở tần số truyền tin liên lạc được với Tướng Hưng, để được hướng dẫn lộ trình an toàn đến Bộ Chỉ Huy của Tướng Hưng, đồng thời ông cũng liên lac được với Đại Tá Lưỡng (Lữ Đoàn 1 Dù) để được biết vị trí 2 Tiểu Đoàn 5 và 8 Dù để tránh ngộ nhận.

Trên đường tiến quân vào ấp Srok Gòn, đơn vị Biệt Cách đi đầu báo cáo về Bộ Chỉ Huy , gặp được hai người Thượng, đang mò mẫm trở về ấp để tìm các con bò, của dân làng đã bỏ chạy còn để lại từ hơn tuần qua ,khi Cộng quân đến chiếm cứ, với vết tích đào hầm hố phòng thủ còn nguyên vẹn . Hai người dân Thượng khai báo, quân Cộng Sản Bắc Việt vừa mới rút đi , còn chưa kịp lấp lại hầm hố đã đào xới tứ tung.

Chiếu theo tài liệu của một nhân chứng sống của Biệt Cách Dù, Thiếu Tá Phạm Châu Tài, trong tác phẩm “AN LỘC CHIẾN TRƯỜNG ĐI KHÔNG HẸN”, (nguyên văn bài ,được đính kèm trong phần Phụ Đính) có đoạn ghi như sau :

“Nắng hè chói chang oi bức, ánh nắng lung linh, theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa Đoàn Quân Ma đi vào vùng Đất Cấm. Địa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn nứt nẻ, phía Tây Tỉnh Lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách 1 cây số để đến Đồi Gió. Phải cần một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU1D, với hai đợt đổ quân, mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân vào lúc 4 giờ chiều ngày 16 tháng 04 năm 1972. Mở tần số liên lac với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc. Liên lạc với Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn và nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu. di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thuỷ giữa hai ngọn đồi Gió và đồi 169. Âm thầm và ngậm tăm mà đi. Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến, khi đoàn quân đang di chuyển, một quả bom của Không Quân Hoa Kỳ, định đánh vào vị trí của Cộng quân lại rơi ngay vào đội hình di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Úy Lê Đình Chiếu Thiện. Lập tức, trái khói vàng được bốc cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phía dưới là quân bạn. Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương. Hai cố vấn Mỹ, Đại Úy Huggins và Thượng Sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Đoàn 17 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ, yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thoả mãn ngay. Đây là hai cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ vẫn còn chiến đấu bên cạnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, khi quân bộ chiến Mỹ đang rút lui khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hoá Chiến Tranh được bắt đầu thi hành từ năm 1970….

Ngày 17 tháng 04 năm 1972, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù cùng một thời điểm với Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã về phía Nam cạnh Quốc Lộ 13.

Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt vào thị xã tiếp hơi cho quân tử thủ, và mở cuộc tấn kích ngay đêm đó vào các khu phố mặt Bắc, với kỹ thuật đánh đêm điêu luyện, thần tốc, khi phân tán, lúc hội tụ. Biệt Cách Dù đã giáng lên đầu Cộng quân những đòn sấm sét. Đánh không có sự yểm trợ của pháo binh, hay bất cứ của một loại vũ khí vòng cầu nào. Đánh bằng súng cá nhân, bằng lựu đạn, đánh cận chiến bằng lưỡi lê, đánh nhau từng căn nhà, từng cao ốc đổ vỡ. Chiếm lại từng con đường, từng khu phố trong đêm dài dường như bất tận.

Sáng ngày 18 tháng 04 năm 1972, Biệt Cách Dù đã có mặt hầu hết trong các khu phố phía Bắc thị xã và giải thoát cho cả gần 100 gia đình cư dân còn đang kẹt lại trong vùng kiểm soát của Cộng Sản. Từ các căn nhà sụp đổ bên vệ đường, từng toán Việt Cộng tuôn ra thắo chạy thục mạng về hướng Bắc, vì chúng bị đánh phủ đầu trong đêm, sáng ra nhìn chung quanh nơi nào cũng nhìn thấy Lính Rằn Ri, loại lính đã hơn một lần chặn đánh chúng trên Đường Trường Sơn heo hút mưa bay.

Mặc dù đã chiếm lại toàn bộ khu vực phía Bắc, nhưng vẫn còn một ổ kháng cự mà Cộng quân vẫn còn cố thủ bên trong, đó là Đồn Cảnh Sát Dã Chiến. Biệt Cách Dù tấn công nhiểu đợt, nhưng vẫn chưa vào được. Hơn nữa, từ đồi Đồng Long, Cộng quân dùng đại bác không giật 57 ly, 75 ly và súng cối 82 ly, bắn trực xạ và pháo vào Biệt Cách Dù, để yểm trợ cho bọn chúng cố thủ bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến Cố vấn Huggins của Biệt Cách Dù vào ngay tần số của Lữ Đoàn 1 Không Quân Hoa Kỳ xin yểm trợ hoả lực. Hai chiếc phi cơ AC-130 Spectre bay lượn trên vùng trời An Lộc, với cao độ ngoài tầm sát hại của cao xạ và hoả tiễn địa không SA-7, bắn từng quả đạn 105 ly hoặc từng 3 quả 40 ly vào mục tiêu yêu cầu, được điều chỉnh từ dưới đất. Cuối cùng, Đồn Cảnh Sát Dã Chiến lọt vào tay Biệt Cách Dù vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày 18 tháng 04 năm 1972.

Một phần ba thành phố phía Bắc được tái chiếm trở lại, sau gần 24 tiếng đồng hồ, Biệt Cách Dù chiến đấu liên tục …”

Như vậy do lời khai của hai người Thượng, lực lượng Biệt Cách Dù đã tránh đi được một cuộc chạm súng có thể là nặng nề, hao tổn sinh mạng và cả các phi hành đoàn trên các trực thăng đổ quân của Việt Nam Cộng Hoà, khi đợt đầu vừa mới chạm đất, với Trung Đoàn 141 Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt ,vì chúng đã ẩn phục nơi đây từ tuần qua và mới được lệnh rút đi cách đây không lâu. (đêm 13 tháng 04 năm 1972) vì bị trúng kế “Diệu Hổ Ly Sơn” của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 đã thiết kế.

Mặt trời bắt đầu xế bóng, đoàn quân Biệt Cách Dù âm thầm tiến bước theo đội hình cố hữu tác chiến trong rừng. Tiến cận kề đến tuyến phòng thủ phía Nam thì trời đã tối, di chuyển vào thành phố đến tuyến xuất phát được chỉ định phía Bắc thành phố.

Sau khi kiểm điểm lại quân số, hội họp, phân công lộ trình hành động và nhận định lằn ranh giữa địch và bạn, toàn thể Liên Đoàn phát khởi cuộc xâm nhập tiến lên toàn diện cùng lúc, đột kích đánh thốc lên từ lằn ranh phân chia tạm thời 1/2 phía Nam thành phố, lên mặt phía Bắc, ngay trong đêm vừa mới đến, khi màn đêm vừa bao trùm chiến địa (đêm 16 rạng ngày 17 tháng 04 năm 1972).

Biệt Cách Dù đánh địch ngay trong đêm, khi vừa đặt chân đến trận địa.

Các cán binh Cộng Sản Bắc Việt đang bám trụ trong vùng, phải một phen kinh tâm tán đởm, đang ôm súng mơ màng ngáy ngủ, thình lình bị hàng loạt đạn M.16 và hàng loạt tiếng nổ của lựu đạn M.26 và súng phóng lựu M.79, thi đua nhau nổ liên hồi trong từng hầm hố, từng khu giao thông hào, do các chiến sĩ Biệt Cách Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đột kích tấn công bất ngờ, không kịp trở tay cũng như gọi máy báo động cho nhau.

Vào hừng sáng ngày 17 tháng 04, một cuộc rượt đuổi tàn quân Cộng Sản Bắc Việt bám trụ, xảy ra rất ngoạn mục, các chiến sĩ Biệt Cách Dù, càng đánh càng hăng, Cộng quân chạy như đàn chuột bị xới ổ ,bỏ chạy thục mạng, quy tụ về đồn Cảnh Sát Dã Chiến phía Bắc thành phố để cố thủ.

Cuộc săn lùng, càn quét địch quân, được tiếp diễn đến chiều ngày 18 tháng 04 năm 1972, tiếng súng bắt đầu lắng dịu trở lại trên diện địa 1/2 phía Bắc. Quân Cộng Sản Bắc Việt đã bị các chiến sĩ Biệt Cách Dù hoàn toàn quét sạch, kể cả cứ điểm kiên cố đồn Cảnh Sát Dã Chiến, sau gần 48 giờ các chiến sĩ gan lì Biệt Cách Dù chiến đấu không ngừng nghỉ.

Nói về Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, mặc dù chỉ có 550 chiến sĩ so với 981 trên bảng cấp số được đổ vào tăng viện cho chiến trường An Lộc, khả năng tác chiến , có thể bằng hay hơn 2,000 quân bộ chiến, của các sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt, bởi chiến pháp linh động và bất ngờ, uyển chuyển theo tình hình, biết tùy theo thời tiết và địa thế. Khi tấn công thì như sấm sét, giáng lên đầu quân địch làm chúng không kịp trở tay, xuất hiện bất ngờ như những thiên thần trên trận mạc, đánh cận chiến tuyệt kỷ, trên các giao thông hào, hầm hố, vào lúc ban đêm, chui tường, đục lỗ, tác chiến trong thành phố, ban ngày lẫn ban đêm rất là điêu luyện. Lấy ít đánh nhiều ,đột kích bất ngờ, thu dọn chiến trường nhanh chóng. Đã làm kinh tâm khiếp đảm địch quân trên tận dãy Trường Sơn heo hút gió ngàn, và trong thành phố tại ngã ba Cây Thị ,kỳ Tết Mậu Thân năm 1968 tại Sài Gòn, Thủ Đô nước Việt Nam Cộng Hoà.

Nay là lần đầu tiên cả Liên Đoàn đều được tập họp lại một lần, và cùng chung nhau sát cánh chiến đấu trong một thành phố, với tất cả tấm lòng phấn khởi quyết chiến quyết thắng, từ con chim đầu đàn Trung Tá Phan Văn Huấn, Liên Đoàn Trưởng, Thiếu Tá Nguyễn Văn Lân, Liên Đoàn Phó, Đại Úy Trần Văn Thọ, Trưởng Ban 3, Đại Úy Nguyễn Văn Mai, Trưởng Ban 2, Trung Úy Lê Văn Lợi, Liên Toán Trưởng 4 Toán Trinh Sát, Trung Úy Lê Văn Châu, Bác Sĩ Quân Y, Trung Úy Cao Văn Cát, Sĩ Quan Đề Lô Pháo Binh tăng phái, Thượng Sĩ Phạm Văn Cấp, Trưởng Toán Truyền Tin và Mật Mã, Trung Sĩ 1 Phương, Ban Tiếp Liệu, và các cố vấn Mỹ : Đại Úy Charles Huggins, Cố Vấn Trưởng, Thượng Sĩ Jesse Yearta, cùng các đại đội chiến đấu : Đại Úy Nguyễn Ích Đoàn, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Đại Úy Nguyễn Sơn, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2, Đại Úy Phạm Châu Tài, Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, và Đại Úy Đào Minh Hùng, Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 cùng toàn thể các Chiến Sĩ trong Liên Đoàn Biệt Cách Dù.

10. BIỆT CÁCH DÙ TÁI CHIẾM ĐỒI ĐỒNG LONG

Nhận diện được từ nơi Đồi Đồng Long, Cộng quân đã từng bắn ngang hông Biệt Cách Dù, để yểm trợ cho bọn Cộng Sản Bắc Viêt đang cố thủ trong đồn Cảnh Sát Dã Chiến trong ngày 18 tháng 04 vừa qua, và là một địa điểm quan trọng có ưu thế chiến thuật của Cộng quân, tung ra những cuộc tấn công đã qua và sắp tới, là một cái gai nhọn luôn đâm sóc vào quân phòng thủ ở mặt trận phía Bắc, cần phải được nhổ đi càng sớm càng tốt. Đồi Đồng Long có cao độ 400 thước và tọa lạc khoảng 500 thước phia Bắc An Lộc về phía trái Quốc Lộ 13 từ Nam lên Bắc.

Từ khi Đại Đội 8 Trinh Sát và Đại Đội Địa Phương Quân của Tiểu Khu Bình Long bị ép rút lui, Cộng quân tràn vào chiếm cứ như chỗ không người. Liền khi đó tất cả các công sự phòng thủ đã được các phi tuần không quân chiến thuật san bằng bỏ bom napalm đốt cháy cả tiểu đoàn của quân Cộng Sản Bắc Việt.

Để tránh phi cơ oanh kích, Cộng quân áp dụng chiến thuật hạ tiện trộn lẫn vào dân, đào hầm hố vòng vòng dưới chân đồi nơi có nhà dân cư trú ở phía Đông và phía Tây, cũng như một ngôi trường tiểu học ở phía Bắc, nhiều nhất ở hướng Đông, Bắc và Tây Bắc ngọn đồi. Quân Cộng Sản Bắc Việt có ý định lấy dân làm bia đỡ đạn cũng như đỡ bom. Nhưng ý định đó không có kết quả cụ thể, vì khi quân Cộng Sản tiến đến đâu, thì dân bỏ chạy đi đến đó. Quân Cộng Sản Bắc Việt cho rằng, dân chúng này ngoan cố, nên bắn bừa theo, như trường hợp dân cư vùng phi trường Quản Lợi (xem tường thuật của Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân). Còn những ai đã thoát khỏi tầm súng cá nhân thì Cộng Sản Bắc Việt gọi pháo binh bắn tiếp .

Vì dân chúng cư ngụ xung quanh chân đồi Đồng Long, đã chạy thoát khỏi nanh vuốt của Cộng quân, phi cơ đã có thể oanh kích tự do những điểm nghi ngờ và những giao thông hào, cũng như những cứ điểm, mà Cộng Sản Bắc Việt đang đào, ở trong những căn nhà dân chúng đã bỏ lại , và cả ngôi trường tiểu học tại đó.

Cho đến ngày 08 tháng 06 năm 1972, sự kiện lịch sử ,Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đi tiên phong cùng Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh và Trung Đoàn 33 Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đánh xuyên thủng 2 trung đoàn của Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, và bắt tay dược với Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù ở phía Nam, có nghĩa là đã đánh tan các chốt kiền của Công Trường 7, đóng chốt chận viện từ hơn 2 tháng qua trên Quốc Lộ 13, đã đem đến một luồng sinh khí mới , làm nức lòng quân phòng thủ trên toàn mặt trận.

Nhân lúc tinh thần quân trú phòng lên cao, và cũng là lúc tinh thần các cấp cán binh Cộng Sản hoang mang giao động ,về tin quân tăng viện Việt Nam Cộng Hoà đã mở được cửa ngõ ở phía Nam, “thừa thắng xông lên”, ngày 12 tháng 06 năm 1972, Biệt Cách Dù tung 2 đại đội và 4 toán trinh sát tái chiếm đồi Đồng Long.

Phi cơ đã oanh kích triệt để khu vực này, không còn gì đứng vững sau trận mưa bom napalm. Sau trận bỏ bom, Cộng Sản Bắc Việt đã di chuyển trở lại và lấy những tấm tôn vung vãi để che những giao thông hào và những nơi chúng đặt súng, với ý nghĩ là phi cơ sẽ không phát hiện được. Từ đó chúng sẽ bắn vào An Lộc để khống chế mặt Bắc . Sự ngụy trang này chỉ có đơn vị bộ binh ở dưới đất hoạ may mới có thể phát hiện , còn không ảnh thì khó có thể chụp và giải đoán được

Trung Tá Phan Văn Huấn, con chim đầu đàn của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, trực tiếp chỉ huy cuộc đột kích đánh thẳng vào đồi Đồng Long, tại nơi đây đang có cấp tiểu đoàn bộ binh yểm trợ cho các đơn vị thuộc Trung Đoàn phòng không 271 và tiểu đoàn vũ khí nặng : súng cối 82 ly, đại bác không giựt 57 ly và 75 ly của địch.

Chiếu theo kế hoạch đột kích, Biệt Cách Dù chia là 3 mũi tấn kích : Mũi tấn kích bên sườn trái do cánh quân của Đại Đội 2 Xung Kích chỉ huy bởi Đại Úy Nguyễn Sơn (Đại Đội Trưởng), mũi tấn kích bên sườn phải do cánh quân của Đại Đội 3 Xung Kích chỉ huy bởi Đại Úy Phạm Châu Tài, có biệt danh là Hổ Xám (Đại Đội Trưởng), còn cánh quân chính tấn kích thẳng vào chính diện, thì do đích thân Trung Tá Phan Văn Huấn chỉ huy thống nhất cùng với 4 Toán Trinh Sát ,của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù với Trung Úy Lê Văn Lợi (Liên Toán Trưởng) chỉ huy.

Các chiến sĩ gan lì Biệt Cách Dù âm thầm xuất phát từ mặt Bắc thành phố An Lộc, và đến chân đồi vào lúc nửa đêm, sau khi dàn trận hàng ngang, từ từ tiến sát đến mục tiêu, rồi đồng loạt xung phong vào lúc trời vừa mới hừng sáng. Tiếng hô xung phong vang dội của 300 chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã làm thức tỉnh trên 1,000 Cộng quân đang trấn thủ, nhưng không còn kịp nữa, bị đột kích vô cùng táo bạo và bất ngờ, tiếp theo tiếng hô xung phong vang dậy một góc trời, sau đó là tiếng súng cá nhân, tiếng lựu đạn đang thi nhau nổ. Dưới hầm trú ẩn, Cộng quân chủ quan khinh địch, sau hơn 60 ngày chiếm cứ, không nghĩ là sẽ bị tấn công bất ngờ. Khi Cộng quân hoàn hồn trở lại, thì đâu đâu cũng thấy đầy dẫy các Thiên Thần Mũ Xanh trong vị trí. Trở tay không kịp, hoảng hốt, co giò chạy, không kịp thì giờ để xỏ chân vào đôi dép râu Bình Trị Thiên của Bác, chứ đừng nói chi đến quơ cào cầm được khẩu súng để chống trả. Một số chạy ngược trở lên trên đỉnh đồi, đưa nguyên cái lưng cho các chiến sĩ Biệt Cách Dù tác xạ như bắn bia tại quân trường, bắn đâu trúng đó. Một số khác tuôn chạy về hướng Nam để thoát thân ra rừng, thì làm mồi cho các trực thăng võ trang tác xạ. Tổng cộng, Quân Cộng Sản Bắc Việt đã để lại trận tiền trên 600 xác chết và bị thương. Xác địch, thương binh của địch, vũ khí hạng nặng của địch vương vãi trên đỉnh đồi và dưới các hầm hố phòng thủ , sau này có cái tên là Ngọn Đồi Máu, là máu của quân thù Cộng Sản Bắc Việt.

Chiến thuật đột kích là phương pháp tấn công vô cùng táo bạo, dùng ít đánh nhiều, đánh nhanh đánh mạnh, với hoả lực được tập trung tối đa bắn phủ đầu, bắn ngay vào mục tiêu đang xuất hiện trước mặt mình, được các chiến sĩ Biệt Cách Dù áp dụng trong thời điểm bất ngờ nhất, khiến cho địch không kịp trở tay và có đủ thì giờ xoay trở.

Sau khi san bằng mục tiêu Đồi Đồng Long, Trung Tá Huấn, nhận được điện báo cáo của Đại Đội 2 và Đại Đội 3, hai bên cánh tả và hữu, là đã quét sạch mục tiêu, địch đã bị đánh tan, ngoại trừ những xác chết và thương binh địch, và liền khi đó Trưởng Toán Trinh Sát, Trung Úy Lê Văn Lợi, hãnh diện và hiên ngang cắm lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà trên đỉnh đồi Đồng Long vào xế chiều cùng ngày . Lá Quốc Kỳ thân yêu Nền Vàng Ba Dọc Đỏ, đang ngạo nghễ tung bay phất phới trên đỉnh đồi Đồng Long, giữa nền trời xanh biếc của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, xoá tan đi áng mây mù đang giăng phủ vùng trời An Lộc.

Chiếm xong đồi Đồng Long, Biệt Cách Dù tiếp tục lục soát chung quanh trận địa, và phát hiện một căn hầm ven rừng, có tiếng động khả nghi bên trong. Tất cả các họng súng đen ngòm đều hướng vào miệng hầm chờ đợi, như con hổ rình mồi. Có tiếng hét từ nơi các chiến sĩ Biệt Cách Dù đứng cạnh miệng hầm : – chui ra ngay. – đầu hàng ngay, nếu không tao tung lựu đạn vào, chết cả đám bây giờ !!!

Có tiếng la từ xa :

– Khoan, khoan, dừng tay. Coi chừng bắn lầm vào dân !!! – tiếng nói của Trung Tá Huấn chỉ thị từ xa vọng lại.

Tất cả khi nghe được lệnh của vị Chỉ Huy Trưởng, đều ngừng tay chờ đợi. Trung Tá Huấn bước lại gần miệng hầm và nói to : Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hoà, ai trốn trong hầm thì chui ra mau. Câu nói được lập lại lần thứ hai, thì có tiếng khóc thút thít the thé bên trong hầm vọng ra. – Ra đi, chui ra mau đi, không sao đâu. Đó là những lời thúc giục của những chiến sĩ Biệt Cách Dù, đang chờ sẵn trên miệng hầm. Tiếng động bên trong rõ dần. Những ánh mắt long lanh của những người chiến binh Biệt Cách Dù chùng xuống, khi thấy lần lần xuất hiện, hai em bé gái khoảng 8 và 9 tuổi, đang bò lê lết tấm thân tiều tụy, áo quần rách nát, thân còn xương bọc da sau nhiều ngày đói khát, chậm rãi bò ra khỏi hầm. – Trời ơi !!! Ba Má các em đâu ? Sao lại như thế này ? Còn ai trong đó không ? Trung Tá Huấn hỏi. Hai em bé, mặt mũi lem luốc, mắt mờ đẫm lệ, thân mình khô đét, như hai bộ xương còn biết cử động, chỉ biết lắc đầu, chứ không thốt lên được lời vì kiệt sức, sau những câu hỏi dịu dàng đầy tình thương của vị chỉ huy 81 Biệt Cách Dù. Trung Úy Lê Thanh Châu, Bác Sĩ Quân Y của Liên Đoàn, liền được gọi đến để cấp cứu, cho hai em uống ít nước, và chích cho hai em hai mũi thuốc khỏe, lần lần hai em mới từ từ lấy lại sức, và dần dần hai em mới thốt được ra tiếng, kể lại về hoàn cảnh gia đình hai em như sau :

Em lớn tên Hà Thị Nở (9 tuổi), em nhỏ tên Hà Thị Loan (8 tuổi), cha là Trung Sĩ Nhất Hà Trung Hiến (Địa Phương Quân Tiểu Khu Bình Long), không biết sống chết hay còn kẹt nơi đâu, để lại vợ và 3 con non dại (Nỡ và Loan và một em trai 4 tuổi). Mẹ của Nỡ và Loan cõng em trai 4 tuổi trên lưng, còn hai tay thì dìu hai đứa con gái chạy loạn, dưới làn mưa pháo của quân Cộng Sản Bắc Việt. Chạy từ khu nhà dân, ở chân đồi Đồng Long, giữa đường bị một quả pháo nổ ngay sau lưng bà mẹ, và đã gây thảm cảnh cho gia đình Trung Sĩ Hiến, vợ cùng với đứa con trai phía sau lưng, đang ôm chặt lầy cổ của mẹ mình, đều bị thương nặng vì trúng mảnh pháo. Bà mẹ ngã vật xuống bên lề đường, rên rỉ một hồi rồi tắt thở lìa đời, còn lại hai mái đầu xanh chỉ vừa tròn 8 và 9 tuổi đầu, kêu khóc tuyệt vọng bên xác mẹ hồi lâu, phải ngậm ngùi quẹt lau nước mắt, gỡ rời tay em trai, vẫn còn quàng ngang qua cổ mẹ, mình mẩy đã dầm dề máu tươi, hai chị em thay phiên nhau cõng em trai mình, từ từ lê lết tìm gặp cái hang này, và chui vào đó tránh đạn pháo của quân Cộng Sản Bắc Việt. Người em trai 4 tuồi vì vết thương trầm trọng, máu cứ tuôn ra nhiều, rồi cũng ra đi theo người mẹ quá vãng ,cách đó vài giờ trước.

Các em kể lại , không biết thảm cảnh cho gia đình các em, xảy ra ngày tháng nào, chỉ biết là ngày mà Quân Cộng Sản tràn vào chiếm ấp ,và tất cả dân đều bỏ chạy, cho đến hôm nay, dường như đã trên 60 ngày ,không cơm không nước !!! Vậy thì các em làm sao sống được ? Các em mô tả trong ngày đầu, đứa em trai tắt thở qua đời, thân xác sau hai ba ngày sình thối, mùi thối xông lên thật là khó ngửi, hai em phài thò đầu ra ngoài miệng hang để thở cầm hơi, chỉ dám ló ra ngoài miệng hang vào lúc ban đêm, khi nghe thấy tiếng bom đạn dịu dần, để bắt dế nhũi, và tất cả các sinh vật lớn nhỏ như trùng, bò cào châu chấu để đỡ bụng qua ngày, còn nước thì phải lần mò ra xa hơn, tìm thấy nơi các hố của bom và pháo, chị em cúi đầu gục xuống để mà hớp vài ngụm nước, còn đầy hơi mùi thuốc nổ, để uống. Ôi chiến tranh, chiến tranh tàn khốc mà người Cộng Sản đã mang đến cho dân tộc Việt Nam mình như thế đó.

Hai em bé nhỏ đó, được các chiến sĩ Biệt Cách Dù cứu sống, và được chuyển về cho Tiểu Khu Bình Long chăm sóc tiếp … Cho đến khi An Lộc được giải toả, và rồi không còn được tin gì về hai em nữa … Cho mãi đến năm 1994, phóng viên điện ảnh Nguyễn Hữu Cầu ở San Jose điện thoại cho Đại Tá Huấn biết tin : Hai em Loan và Nỡ đã được một gia đinh người Mỹ nhận làm con nuôi, và đưa về Mỹ ngay từ năm 1974. (15)

Chú thích: (15) Đặc San Biệt Cách Dù số Đại Hội năm 1998, đề mục : “Hai tháng tử thủ An Lộc” của tác giả Đỗ Đức Thịnh, trang 83.

11. BẮC NHỊP CẦU ĐỔ QUÂN

Chiều ngày 13 tháng 04 năm 1972, sau khi Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đến Lai Khê, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 , thay đổi kế hoạch hành quân giải toả Quốc Lộ 13 như sau :

Trực thăng vận Trung Đoàn 31 và Đại Đội 21A Công Binh Chiến Đấu xuống Tân Khai (12 cây số Nam An Lộc), để thiết lập căn cứ hoả lực Pháo Binh dã chiến với 6 khẩu đại bác 105 ly do các trực thăng Chinook câu đến.

Kế tiếp , trực thăng vận Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 15 Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà cùng với một tiểu đoàn và Đại Đội Trinh Sát 15 , xuống Căn Cứ Hoả Lực Tân Khai để bảo vệ Pháo Binh và Công Binh Chiến Đấu , thay thế cho Trung Đoàn 31 Sư Đoàn 21 Bộ Binh điều động ngược trở về phía Nam, hướng chốt Tàu Ô tấn công quân địch từ mặt Bắc xuống, tiếp nối với Trung Đoàn 32 Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà di chuyển bằng đường bộ từ phía Nam đánh thốc lên hai mặt giáp công bứng chốt Tàu Ô.

Kế tiếp trực thăng vận Trung Đoàn 33 Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, xuống phía Bắc Căn Cứ Hoả Lực Tân Khai, làm bàn đạp tiến lên về hướng An Lộc, nơi vùng này có 1 lực lượng địch cỡ 2 trung đoàn chủ lực của Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, đang bố trí cản đường tiến, và để ngăn cản viện quân của Quân Lực Vệt Nam Cộng Hoà từ phía Nam lên. (16)

Chú thích : (16) Nhật Ký Hành Quân Quân Đoàn 3 về trận An Lộc năm 1972.

12. BÌNH LUẬN

Trận tấn công Đồi Đồng Long của Biệt Cách Dù với quân số khoảng 300 chiến sĩ (ở thế công) tiến đánh khoảng
1,200 quân Cộng Sản Bắc Việt (ở thế phòng ngự). Kết quả sau trận đánh Cộng quân bỏ xác và thương binh tại trận khoảng 600, còn Biệt Cách Dù chỉ bị thiệt hại khoảng chưa đến 1% nhân lực.

Có thể nói đây là trận tấn công trực diện của Biệt Cách Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đánh đại bại quân Cộng Sản Bắc Việt. Lấy ít đánh nhiều, sát hại địch nhiều mà thương vong thì ít.

CUỘC TẤN CÔNG LẦN THỨ BA VÀO AN LỘC (Khởi Điểm Vào Đêm 18 Rạng Ngày 19 Tháng 04 Năm 1972) Và Trận Chiến Tại Cao Điểm Đồi Gió Và Đồi 169 Của Tiểu Đoàn 6 Dù VIỆT NAM CỘNG HOÀ với 2 Trung Đoàn 141 Công Trường 7 Và Trung Đoàn 272 Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt

Sau 2 ngày đêm, cường độ pháo kích của địch giảm dần, mùi thuốc súng đạn vừa lắng dịu, khi hoàng hôn vừa đổ, bỗng dưng cường độ pháo của Cộng quân tăng gia trở lại, và có phần khốc liệt hơn hai lần trước. Cả trên 6,000 quả đạn pháo đủ loại pháo vào thị xã.

Mục tiêu lần này là :

a.- Bệnh viện của tỉnh Bình Long : Nơi đây, đạn pháo của Địch, đã sát hại trên dưới 2 ngàn dân chúng vô tội, các cụ già, đàn bà và trẻ em đã bị thương tích, đang nằm ngổn ngang trong bệnh viện, kể cả những chiếc lều dã chiến do Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà dựng ngoài sân, để che sương nắng gió mưa cho người dân đang bị thương tích , đang chờ được chữa trị ,làm tung toé thịt xương, máu chảy đọng vũng đầm đìa .

b.- Các nơi thờ phượng tôn giáo :

Tại nhà thờ, pháo của Cộng quân bắn sập tháp chuông, pháo sập mái ngói thính đường, chỉ còn chừa lại chiếc thánh giá có treo hình Chúa, hơn 1,000 tín đồ Công Giáo bị vùi chôn dưới đống gạch vụn, thật là thảm thương.

Tại nơi chùa Phật, ngay cổng Phú Lố phía Tây ,cũng lãnh hàng mấy trăm quả pháo, san bằng ngôi chánh điện Phật Đường, kèm theo gần ngàn sinh linh tín đồ, dưới chân bức tượng Phật Bồ Tát Từ Bi vẫn còn nguyên vẹn trên bệ, trơ mình, sừng sững trước trời cao.

Cuộc pháo kích lần này, có thể nói, dụng ý của địch quân là nhằm sát hại dân lành. Cộng quân đã biết chắc rằng, sau gần suốt tuần lễ pháo kích, dân chúng vì không có hầm hố có nắp để ẩn núp tránh pháo , nên bị thương rất nhiều, bắt buộc phải quy tụ về bệnh viện tỉnh để được điều trị … còn số dân khác may mắn không bị thương tích thì hay tụ tập vào những nơi thờ phượng Chúa và Phật để mong nhờ Ơn Trên che chở, cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi … chỉ có một số vài trăm dân chúng đươc may mắn chạy chui vào các hầm hố có nắp của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà, là được thoát nạn trong đợt pháo nặng nề và tàn khốc này.

Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 04 năm 1972, Cộng quân mở song song trận mưa pháo vào tại Thị Xã An Lộc và khu vực Đồi Gió và Đồi 169.

Khi vừa dứt tiếng pháo, tại mặt trận phía Bắc nơi tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Cộng quân gom toàn lực các cán binh của các trung đoàn bộ binh còn lại của Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, và thiết đoàn què quặt chiến xa 203, mở trận tấn công (tiền pháo hậu xung biển người) thêm một lần nữa, nhưng lần này lại gặp phải các chiến sĩ Biệt Cách Dù ở tuyến đầu nên chỉ trong vòng khoảng 1 tiếng đồng hồ, các mũi tấn công của Cộng quân đều bị bẻ gẫy, các chiến xa pha đèn phóng đại vào các hầm hố xụp lỗ, xa lầy, trơ gọng, bị các chiến sĩ Biệt Cách Dù tiến đến cận kề bắn hạ thật dễ dàng, và toàn bộ cuộc tấn công gượng ép bằng bộ binh và chiến xa lần này bị các chiến sĩ Biệt Cách Dù và Trung Đoàn 8 Bộ Binh đẩy lui hoàn toàn.

Sau hơn 1 tiếng đồng hồ, Đại Tá Trường và Trung Tá Huấn, lên tần số báo cáo với Tướng Hưng , Cộng quân đã xử dụng cấp trung đoàn có chiến xa trợ chiến nhưng tất cả đều bị đẩy lui. Địch bị thiệt hại khá nặng, các chiến xa T54 thì bị các chiến sĩ Biệt Cách Dù và Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà bắn hạ không còn một chiếc nào, quân ta bị thiệt hại không đáng kể, tuy nhiên lần này Cộng quân pháo nhiều quá về hướng bệnh viện của Tỉnh, nhà thờ và chùa, có lẽ dân bị thương vong rất nhiều… Trung Tá Biết, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, báo cáo tình hình mặt trận phía Đông : Cộng quân sử dụng cấp trung đoàn có chiến xa trợ chiến, nhưng đều bị các chiến sĩ Biệt Động Quân đẩy lui. Địch bị thiệt hại khá nặng, cũng không lấn thêm được phần đất nào hết. Tuyến phòng thủ của Biệt Động Quân vẫn còn nguyên vẹn, có vài T.54 bị bắn cháy trước tuyến phòng thủ. Biệt Động Quân thiệt hại không đáng kể. Tại mặt trận phía Tây, Trung Tá Quân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà báo cáo cho Tướng Hưng biết, lực lượng địch chỉ cỡ cấp tiểu đoàn cũng khai hoả, dường như để thăm dò chứ không có tấn công, tuy nhiên tại cổng Phú Lố nơi chùa Phật có rất nhiều tiếng hét và rên la của dân chúng, có lẽ Chùa đã bị trúng pháo của Cộng quân. Quân bạn không có thiệt hại, quân địch không rõ.

Cuộc tấn công đợt nầy, cũng do Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt và Công Trường Bình Long cộng thêm trung đoàn của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt , cố gắng dồn hết nỗ lực tấn công thêm một lần nữa,sau hai lần tiên khởi thất bại ê chề.

Về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có thêm được 3 ngàn quân tinh nhuệ Nhảy Dù và Biệt cách Dù tăng cường đang có mặt tại trận tuyến, mà địch không ngờ đến. Cho nên khi các đơn vị bộ binh và chiến xa địch tấn công lần này, không đầy 2 tiếng đồng hồ, Địch đã bị đẩy lui hoàn toàn, im bặt hẳn tiếng súng. Địch bị diệt gọn nhanh chóng cả 3 mặt Bắc, Đông, Đông Bắc.

Về thời điểm tấn công của địch cũng không đồng loạt : khai diễn mặt phía Bắc rồi qua mặt phía Đông còn phía Tây thì nổ súng như để thăm dò không tấn công, còn mặt phía Nam thì không thấy động tịnh.

Tóm lại, cuộc tấn công đợt 3 này, Cộng quân không lấn trở lại được thêm một tấc dất nào, mà còn để lại tại chiến địa vài trăm xác chết và hơn chục T54 bị bắn cháy.

Cộng quân chỉ đạt được kết quả là dùng pháo, giết hại trên dưới 4 ngàn cư dân tỉnh Bình Long mà thôi. Đó là thành tích siêu việt của bọn con cháu Bác và Đảng vô thần.