5 Vị Tướng Tuẩn Tiết

nguvituong

Lê Văn Hưng
Levanhung.jpg
Tiểu sử
Sinh

27-3-1933
Hóc Môn, Gia Định, VN
Mất

30-4-1975 (42 tuổi)
Cần Thơ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1954-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng

Lê Văn Hưng (1933-1975), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khoá đầu tại trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia được sự hỗ trợ của Quân đội Pháp đã mở ra ở Nam phần với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt. Sau khi tốt nghiệp, ông được chọn phục vụ trong đơn vị bộ binh. Ông đã tuần tự giữ những chức vụ ban đầu là một Trung đội trưởng cho đến Tư lệnh Sư đoàn bộ binh. Có một thời gian ngắn ông được chuyển sang lĩnh vực hành chính quân sự với những chức vụ Quận trưởng, Tỉnh trưởng. Sau cùng ông được tín nhiệm giữ chức Tư lệnh phó một Quân đoàn. Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Ông sinh ngày 27 Tháng 3 năm 1933 tại Hóc Môn, Gia định. Ông mồ côi cha từ nhỏ, ở với mẹ là cụ Trương Thị Đức và dưỡng phụ là cụ Trần Văn Kiển (nguyên trưởng Ty Quan thuế Biên Hòa). Thời Trung học, ông học ở trường Trung học phổ thông Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn và tốt nghiệp năm 1952 với văn bằng Tú tài 1. Sau đó, ông được tuyển dụng làm việc cho một Công ty người Pháp tại Sài Gòn.

Giữa năm 1954, Thi hành lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 53/115.100. Theo học khoá 5 Vì Dân tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (khai giảng ngày 16/6/1954, mãn khoá ngày 1/2/1955). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.
Tháng 2 năm 1955, ra trường ông được điều đi làm Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 13 Việt Nam (thành lập 11/4/1951 tại Cần Thơ), đồn trú tại Bình Mỹ, Châu Đốc. Sau khi nền Đệ nhất Cộng hoà ra đời và Quân đội Quốc gia được cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông đã cùng đơn vị trực tiếp tham dự chiến dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy, chiến dịch chấm dứt vào tháng 12 cùng năm.

Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức Đại đội trưởng của Tiểu đoàn 13. Đến giữa năm 1959, ông thuyên chuyển qua Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh nhận chức Trưởng ban 2 của Trung đoàn.

Đầu năm 1961, ông được biệt phái sang lĩnh vực hành chính quân sự làm Trưởng ty Cảnh sát tỉnh Vĩnh Bình. Qua giữa năm 1962, ông được cử giữ chức Quận trưởng quận Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Bình.

Tháng 2 năm 1964, sau cuộc chỉnh lý nội bộ do tướng Nguyễn Khánh lãnh đạo, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Sau đó được trở lại đơn vị cũ là Trung đoàn 31 bộ binh và được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2/31. Cuối năm, ông lên làm Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn này. Đến ngày 1 tháng 11 năm 1965, ông được đặc cách thăng cấp tại mặt trận hàm Thiếu tá nhiệm chức.

Vào thời điểm năm 1966, ông làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/31, là một trong 5 vị Tiểu đoàn trưởng nổi danh tại chiến trường cực Nam, được xưng tụng là Ngũ hổ miền tây. Bốn vị còn lại có tên như sau:

Thiếu tá Lưu Trong Kiệt (khoá 7 Thủ Đức, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42 Biệt đông quân, năm 1967 tử trận khi mới 29 tuổi, được truy thăng Trung tá).
Đại úy Hồ Ngọc Cẩn (khoá 2 Đặc biệt Đồng Đế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh).
Thiếu tá Nguyễn Văn Huy (khoá 16 Đà Lạt, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 Biệt động quân).
Đại úy Vương Văn Trổ (khoá 10 Thủ Đức, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/33 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh).

Cuối năm 1966, ông được nhận chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31. Đến ngày 19 tháng 6 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tá nhiệm chức. Ngày 1/11 năm 1968, thăng cấp Đại tá nhiệm chức. Qua năm 1969, ông được cử giữ chức phụ tá hành quân cho Tư lệnh Quân đoàn IV do Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh làm Tư lệnh.

Trung tuần tháng 7 năm 1970, một lần nữa biệt phái sang lĩnh vực hành chính quân sự ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Phong Dinh (nay là Tp Cần Thơ) thay thế Đại tá Nguyễn Văn Khương (tử trận, được truy thăng Chuẩn tướng). Thượng tuần tháng 6 năm 1971, được lệnh bàn giao chức Tỉnh trưởng & Tiểu khu trưởng Phong Dinh lại cho Đại tá Chương Dzềnh Quay (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn 21 bộ binh), ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu về Bộ tư lệnh Quân đoàn III làm Tư lệnh phó Quân đoàn.

Tháng 3 năm 1972, ông được vinh thăng cấp bậc Chuẩn tướng nhiệm chức tại Bộ tư lệnh Sư đoàn ở căn cứ Lai Khê, Bình Dương. Sau chiến trận “Mùa hè đỏ lửa”, tháng 7 cùng năm ông được tặng thưởng tại mặt trận Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu cùng ân thưởng Huy chương đặc biệt mang danh hiệu Bình Long anh dũng. Qua tháng 9, ông được lệnh bần giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Trần Quốc Lịch thuyên chuyển về Quân đoàn IV giữ chức Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc nhiệm của Quân đoàn kiêm phụ tá hành quân cho Tư lệnh Quân đoàn là Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

Thượng tuần tháng 6 năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh thay thế Đại tá Chương Dzềnh Quay được cử làm Tham mưu trưởng Quân đoàn IV. Ngày 1 tháng 11 năm 1974, được lệnh bàn giao Sư đoàn 21 lại cho Đại tá Mạch Văn Trường (nguyên Chánh thanh tra của Sư đoàn), để về lại Quân đoàn IV nhận chức Tư lệnh phó Quân đoàn do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 vào lúc 8 giờ 45 sáng, khi được tin Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí đầu hàng. Tại Bộ tư lệnh Quân đoàn IV ông rất đau buồn, với tinh thần bất khuất không chịu đào thoát hoặc đầu hàng địch. Theo gương tiền nhân bảo toàn khí tiết, sau khi gặp mặt thuộc cấp dặn dò, tâm tình và vĩnh biệt gia đình, ông đã tuẫn tiết tại tư dinh ở trại Lê Lợi, Cần Thơ, bằng cách dùng súng lục bắn vào tim tự sát vào lúc 20 giờ 45. Hưởng dương 42 tuổi.

Trước khi nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc để vĩnh biệt, ông đã nói:

Tôi bằng lòng chọn cái chết, tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành.

Lễ an táng được tổ chức trong hoàn cảnh buồn thương tại khu đất của gia đình trên đường Nguyễn Viết Thanh, Thị xã Cần Thơ.
NGUYEN KHOA NAM
Nguyễn Khoa Nam (1927-1975), nguyên là tướng lĩnh Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam, được sự hỗ trợ của Pháp mở ra ở Nam phần. Ra trường, ông tình nguyện vào đơn vị Nhảy dù và đã phục vụ trong binh chủng này một thời gian dài, tuần tự giữ những chức vụ từ Trung đội trưởng… đến phó Tư lệnh binh chủng. Cuối thập niên 1960, ông chuyển sang bộ binh và giữ chức Tư lệnh Sư đoàn. Sau cùng ông đảm trách chức vụ Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn chủ lực của Quân lực Cộng hòa. Sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra, ông là một trong 5 tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa đã tự sát.
Ông sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927 tại Đà Nẵng, Trung phần Việt Nam, trong một gia đình “Danh gia Vọng tộc” khá giả có nguyên quán ở làng An Cựu Tây, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên. Song thân là cụ Nguyễn Khoa Túc (nguyên Thanh tra Học chánh tại Đà Nẵng) và cụ Công Tôn Nữ Mộc Cẩn (thuộc dòng Tuy Lý Vương, hoàng tộc nhà Nguyễn).

Ông có người em là ông Nguyễn Khoa Phước (nguyên Thượng Nghị sĩ Việt Nam Cộng hòa) và người cháu gọi ông bằng cậu là Nguyễn Mạnh Trí (nguyên Hải quân Trung tá, tốt nghiệp khóa 10 Hải quân Nha Trang).

Thời niên thiếu, ông học tiểu học tại trường Ècole des Garcons, Đà Nẵng. Lên trung học theo chương trình Pháp, nội trú ở trường Quốc học Huế (Lycėe Khải Định). Năm 1946, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, thi vào trường Hành chánh ở Huế (hệ Cao đẳng). Năm 1951, ông tốt nghiệp và được bổ dụng làm công chức tại Sở Ngân sách Trung Việt, một năm sau giữ chức vụ Chủ sự phòng.
Cuối tháng 3 năm 1953, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 47/291.065. Theo học khóa 3 Đống Đa trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức thuộc Trung đội khoá sinh số 16 (khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1953, mãn khóa ngày 1 tháng 12 cùng năm). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy (ngạch hiện dịch). Ra trường, ông được chọn về đơn vị Nhảy dù và được cử làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 trong Tiểu đoàn 7 Nhảy dù. Sau đó, ông được theo học khóa Nhảy dù cấp tốc tại Bến phà Đen (gần Bệnh viện Đồn Thuỷ), Hà Nội. Đến tháng 3 năm 1954, ông được tăng phái cho Tiểu đoàn 3 Nhảy dù. Tháng 4 năm này, ông được đi thụ huấn khóa Đại đội trưởng tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Mãn khóa về lại đơn vị, ông được cử giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 7 Nhảy dù. Tháng 8 cùng năm, ông theo đơn vị từ Hà Nội bằng đường không vận di chuyển vào Nam đồn trú tại Đồng Đế, Nha Trang (cùng di chuyển với Tiểu đoàn 7 vào đồn trú ở Đồng Đế còn có Tiểu đoàn 3 và 5 Nhảy dù).
Năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên sang tên mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Tiểu đoàn 7 giải tán để bổ sung quân số cho 2 Tiểu đoàn 3 và 5. Ông được cử đi du học lớp Huấn luyện viên Nhảy dù trong vòng 8 tháng tại Pau, Pháp. Mãn khoá, trở về phục vụ tại Tiểu đoàn Trợ chiến Nhảy dù do Đại úy Nguyễn Thọ Lập làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 12 cuối năm này, ông được cử làm Đại đội trưởng Đai đội Kỹ thuật trong Tiểu đoàn Trợ chiến thay thế Trung úy Ngô Xuân Nghị. Qua tháng giêng năm 1957, ông chuyển về Bộ chỉ huy Liên đoàn Nhảy dù phục vụ tại Phòng 3 (đặc trách hành quân). Tháng 6 cùng năm này, ông được thăng cấp Trung úy nhiệm chức. Đầu năm 1959, ông được cử làm Trưởng ban 3 của Tiểu đoàn 3 Nhảy dù.

Đầu tháng giêng năm 1961, ông được thăng cấp Đại úy nhiệm chức. Đến tháng 2 năm 1962, ông chuyển sang Tiểu đoàn 5 Nhảy dù giữ chức vụ Tiểu đoàn phó. Tháng 6 năm này, ông được cử đi Hoa Kỳ học khóa “Chiến tranh rừng rậm” (Tác chiến trong rừng) tại căn cứ Huấn luyện Lực lượng Đặc biệt Fort Bragg. Qua đầu năm 1963, ông được chuyển sang học tiếp khóa Bộ binh cao cấp tại trường Bộ binh Fort Benning.

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc chỉnh lý các tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu, ông được cử làm Trưởng phòng 4 tại Bộ tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù do Đại tá Cao Văn Viên làm Tư lệnh. Qua tháng 7 năm 1965, ông được chỉ định vào chức vụ Tham mưu trưởng Chiến đoàn 1 Nhảy dù do Trung tá Bùi Kim Kha làm Chiến đoàn trưởng. Sau đó 2 tháng, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù thay thế Thiếu tá Hồ Trung Hậu. Ngày kỷ niệm Cách mạng 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá nhiệm chức.

(Đầu tháng 12 năm 1965, Lữ đoàn Nhảy dù được nâng cấp lên thành Sư đoàn).

Tháng 5 năm 1966, ông được ân thưởng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu. Cuối tháng 6 năm này, ông được cử làm sĩ quan phụ tá cho Đại tá Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh. Đầu tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá. Tháng 12 cuối năm, ông được chỉ định giữ chức Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 3 Nhảy dù tân lập. Qua tháng 4 năm 1967, ông được ân thưởng Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu.

(Đầu năm 1968, các chiến đoàn 1, 2 và 3 của Sư đoàn Nhảy dù được cải danh thành Lữ đoàn).

Đầu tháng 1 năm 1969, ông được thăng cấp Đại tá nhiệm chức. Trung tuần tháng 1, ông bàn giao Lữ đoàn 3 lại cho Trung tá Nguyễn Văn Thọ, sau đó ông được đề bạt lên làm phụ tá Tư lệnh Sư đoàn.

Trung tuần tháng 1 năm 1970, rời Sư đoàn Nhảy dù để thuyên chuyển về Quân khu 4, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh thay thế Chuẩn tướng Nguyễn Thành Hoàng được cử lên làm Tư lệnh phó Quân đoàn IV. Tháng 6 cùng năm, ông được vinh thăng cấp bậc Chuẩn tướng nhiệm chức. Đến ngày 1 tháng 11 cuối năm này, ông được đặc cách tại mặt trận, vinh thăng Thiếu tướng nhiệm chức.

Giữa năm 1974, ông được cử làm Trưởng đoàn, hướng dẫn phái đoàn chiến sĩ xuất sắc thăm viếng Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) trong vòng 1 tuần lễ. Đầu tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4 thay thế Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được cử làm Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi biết tin của Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông vũ khí bàn giao, ông trấn an quân nhân các cấp trong Bộ tư lệnh và khuyên họ hãy rời nhiệm sở để trở về với gia đình. Sáng ngày 1 tháng 5, ông vận bộ quân phục đại lễ của Quân đội, vào khoảng 6 giờ 30 ông dùng súng Browning bắn vào màng tang tự sát tại chiếc ghế làm việc của mình trong tư dinh tư lệnh ở trại Lê Lợi trên đường Hòa Bình, tỉnh Phong Dinh, nêu cao tinh thần “thành mất tướng tuẫn tiết theo thành”. Hưởng dương 48 tuổi[1]. Thi thể ông được Y sĩ Trung tá Hoàng Như Tùng (Chỉ huy trưởng Quân y viện) đưa về quàn tại Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Sau đó, đứng ra an táng ông trong Nghĩa trang Quân đội Cần Thơ. Ngày hôm sau, người chị ruột của ông (đã được báo tin từ chiều hôm trước) là bà Nguyễn Khoa Diệu Khâm từ Sài Gòn xuống Cần thơ để dựng bia mộ cho ông.

Đến năm 1984, được người em dâu và người cháu gái từ Sài Gòn xuống Cần Thơ bốc mộ hoả thiêu, tro cốt đem về để tại chùa Quảng Hương Già Lam, địa chỉ số 498/11 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh.

Sinh tiền, ông là một phật tử thuần thành, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Ông cũng là một quân nhân thuần túy không xen vào chính trị, không lập gia đình, có cuộc sống giản dị, không xa hoa, không bị tai tiếng tham nhũng và được binh sĩ yêu mến.
LE NGUYEN VY
Lê Nguyên Vỹ (1933-1975), nguyên là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ một trường Võ bị Địa phương do Chính phủ Quốc gia mở ra ở Trung phần. Ra trường được điều về đơn vị bộ binh, sau chuyển qua phục vụ đơn vị Nhảy dù một thời gian ngắn. Sau lại trở về bộ binh tuần tự giữ nhiều chức vụ cho đến năm 1973, ông được bổ nhiệm chức Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 5 bộ binh. Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Ông sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933 tại Sơn Tây trong một gia đình nho giáo và có truyền thống hiếu học. Là con của cụ Lê Nguyên Liên và cụ Lê thị Huệ. Ông tốt nghiệp trung học phổ thông chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Đầu năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/204.567. Theo học khóa 2 *) toạ lạc ở Huế (khai giảng ngày 1 tháng 2 năm 1951, mãn khoá ngày 1 tháng 10 cùng năm). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chuyển về phục vụ trong Tiểu đoàn 19 Việt Nam thuộc Quân đội Quốc gia là thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp với chức vụ Trung đội trưởng do Đại úy Đỗ Cao Trí làm Tiểu đoàn trưởng.

(*) Trường Võ bị Địa phương Trung Việt còn gọi là Trường Võ bị Đập Đá. Vị trí trước đó là Trường Võ bị Quốc gia Huế, đã đào tạo được 2 khoá, sau dời về Đà Lạt đổi tên là Võ bị Liên Quân.

Đầu năm 1953, ông được cử theo học khoá 1 Biệt kích tại Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội Vạt Cháy (Bãi Cháy), Hòn Gai, Quảng Yên. Mãn khoá trở về đơn vị gốc (Tiểu đoàn 19) ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức Đại đội trưởng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 19 Việt Nam giải tán dùng làm nòng cốt để thành lập Tiểu đoàn 6 Nhảy dù. Cùng năm, ông được tuyển chọn đi du học khóa huấn luyện viên Nhảy dù tại Pau, Pháp.
Năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông bị thương trong chiến trận đẩy lui lực lượng Bình Xuyên ra khỏi trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Qua giữa năm 1956, ông được thăng cấp Đại úy và được theo học lớp bộ binh cao cấp. Mãn khoá, ông được bổ nhiệm làm Quận trưởng Quận Bến Cát, Bình Dương.

Đầu năm 1961, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Sau đó chuyển trở về bộ binh được giữ chức Tiểu đoàn trưởng một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 bộ binh.

Trung tuần tháng 8 năm 1968, sau chiến trận Mậu thân đợt 2, ông được thăng cấp Trung tá lên giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 bộ binh. Qua giữa năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Sau đó được cử đi du học khoá Chỉ huy và Tham mưu tại Fort Leavenworth, Hoa Kỳ.

Cùng du học với ông còn có:

Đại tá Ngô Hán Đồng (khoá 2 Thủ đức, năm 1972 tử nạn được truy thăng Chuẩn tướng)
Đại tá Nguyễn Hữu Duệ (khoá 6 Đà lạt, sau cùng là Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên)
Trung tá Nguyễn Quang Hưng (khoá 7 Đà Lạt, sau cùng là Tham mưu trưởng Đại học Chiến tranh Chính trị)
Trung tá Võ Đại Khôi (khoá 3 Đà Lạt, sau là Đại tá Tổng cục phó Tổng cục Quân huấn)

Trung tuần tháng 6 năm 1971 mãn khoá từ Hoa Kỳ về nước, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 bộ binh. Ông trực tiếp tham gia trong chiến trường An Lộc tử thủ căn cứ chỉ huy. Sau khi chiến thắng, ông được giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Chiến thuật Quân đoàn III, sau đó được cử đi du hành thăm viếng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Giữa năm 1973, ông được chuyển về quân khu 4 giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 21 bộ binh do Chuẩn tướng Lê Văn Hưng làm Tư lệnh. Thượng tuần tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh thay thế Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch được cử đi làm Chánh thanh tra Quân đoàn III và Quân khu 3.

Thời điểm này, các sĩ quan chỉ huy và tham mưu cao cấp của Sư đoàn 5 như sau:

Đại tá Trần Văn Thoàn (tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt, Tư lệnh phó)
Đại tá Từ Vấn (khoá 12 Đà Lạt, Tham mưu trưởng).
Đại tá Nguyễn Văn Vượng (Chỉ huy Trung đoàn 7)
Trung tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng (khoá 10 Đà Lạt, Chỉ huy Trung đoàn 8. Thăng cấp Đại tá tại nhiệm cuối năm 1974).

Ngày 1 tháng 11 năm 1974, ông được vinh thăng Chuẩn tướng tại nhiệm.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe nhật lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đến bàn giao. Ông ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Sau đó ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát tại Bộ Tư lệnh ở Lai Khê (Bến Cát, Bình Dương).

Thi thể ông được an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư lệnh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Năm 1987, Do Nghĩa trang Hạnh Thông Tây có lệnh giải toả. Hài cốt ông được thân mẫu (đã ngoài 80 tuổi) cùng với người em là Lê Nguyên Quốc từ miền Bắc vào hợp cùng người anh con ông Bác là Trung tá Lê Nguyên Hoàng (mới cải tạo về) đến Nghĩa trang Hạnh Thông Tây bốc mộ và hỏa thiêu, đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại nguyên quán số nhà 151 đường Lê Lợi Thị xã Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Sau đó, tái cải táng xây lăng mộ tại Nghĩa trang của gia tộc ở Sơn Tây.
PHAM VAN PHU
Phạm Văn Phú (1929-1975), nguyên là tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Thiếu tướng. Xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở nam cao nguyên Trung phần vào thời điểm Quân đội Quốc gia Việt Nam còn thuộc Liên hiệp Pháp. Ra trường, ông được chọn vào binh chủng Nhảy dù, về sau giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt và Tư lệnh Sư đoàn bộ binh. Sau cùng ông là Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn chủ lực của Quân lực Cộng hòa.

Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Ông sinh ngày 16 tháng 10 năm 1928 tại Hà Đông, Bắc phần (nay thuộc Tp Hà Nội), trong một gia đình nho giáo. Song thân là cụ Phạm Văn Tích và cụ Nguyễn Thị Nhiễm.

Ông đã tốt nghiệp trung học phổ thông chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được tuyển dụng làm công chức tại Hà Đông một thời gian ngắn trước khi nhập ngũ.

Giữa năm 1952, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 48/300.402. Theo học khóa 8 Hoàng Thụy Đông tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1952, mãn khóa ngày 28 tháng 6 năm 1953). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy ngạch hiện dịch. Ra trường ông được chọn phục vụ trong đơn vị Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp. Đầu tháng 7 sau đó, ông thuyên chuyển về Tiểu đoàn 5 Nhảy dù đảm trách chức vụ Trung đội trưởng. Đầu tháng 12 cuối năm này, ông được thăng cấp Trung úy giữ chức Đại đội phó.

Ngày 14 tháng 3 năm 1954, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn 5. Ngày 25 tháng 4, ông được đặc cách thăng cấp Đại úy tại mặt trận do chiến tích của Đại đội ông chỉ huy đạt được trong nhiệm vụ tái chiếm cứ điểm trọng yếu đồi Elianne trong trận Điện biên phủ. Ngày 7 tháng 5, ông được ghi nhận mất tích tại chiến trường do bị đối phương bắt làm tù binh, sau đó bị đưa về giam giữ ở trại giam Đình Cả, Thái Nguyên.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã từng bắt nhịp bài La Marseillaise (Quốc ca Pháp) cho lính Quốc gia Việt Nam vừa hát vừa xông lên phản kích ở đồi C1 nên được các sĩ quan Pháp cảm kích. Khi Điện Biên Phủ thất thủ, Việt Minh bắt giam ông cùng với Bréchignac, Botella, Clédic, Mackowiak và nhiều quân nhân khác.[1]

Đài Tiếng nói Việt Nam sau này nhận định: “Viên tướng tư lệnh Phạm Văn Phú, kẻ đã bại trận thảm hại tại chiến trường Tây Nguyên năm 1975, cũng từng là lính Việt chiến đấu hăng hái bên các chiến hữu Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1954. Tại Điện Biên, ông Phạm Văn Phú khi đó si mê hát Quốc ca Pháp, hô hào các binh sĩ ngụy khác đánh trả quân đội Việt Minh của đại tướng Võ Nguyên Giáp”.[
Ngày 8 tháng 7 năm 1955, (sau Hiệp định Genève), cùng trong số 20 sĩ quan tù binh được Việt Minh trao trả qua ngã cầu Hiền lương, sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị thuộc vĩ tuyến 17. Sau đó được biên chế vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9 cùng năm, ông được cử theo học lớp Dẫn đạo Chỉ huy tại Trung tâm Huấn luyện số 1 ở Quán Tre (tiền thân của Trung tâm Huấn luyện Quang Trung sau này). Qua đầu tháng 2 năm 1956, được tái phục vụ trong binh chủng Nhảy dù.

Giữa tháng giêng năm 1960, ông được biệt phái qua Bảo an, giữ chức vụ Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh Kiến Phong. Tháng 5 cùng năm, trở về lại quân đội, ông được cử làm Quận trưởng quận Trà Cú thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 26 tháng 10 cuối năm, nhân dịp lễ Quốc khánh lần thứ 5 của nền Đệ nhất Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Đầu tháng 8 năm 1961, ông được cử làm Liên đội trưởng Liên đội Quan sát số 1 thuộc Lực lượng Đặc biệt. Hạ tuần tháng 10 cùng năm, được cử đi du học lớp Thực tập hành quân và Huấn luyện Lực lượng Đặc biệt tại Okinawa, Nhật Bản trong thời gian 1 tháng.

Hạ tuần tháng 4 năm 1964, sau cuộc chỉnh lý nội bộ Chính quyền của Hội đồng Quân nhân Lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Vùng 3 chiến thuật. Đến ngày 10 tháng 8 cùng năm, kiêm chức vụ Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Trung tá Nguyễn Hộ. Đầu tháng 11 cuối năm này, nhân ngày kỷ niệm 1 năm cách mạng (1 tháng 11), ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Tháng 4 năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá và thuyên chuyển đến Bộ tư lệnh Quân đoàn I ở miền Trung. Cuối tháng 6, Xử lý thường vụ chức vụ Tư lệnh sư đoàn 2 bộ binh và Biệt khu 12 chiến thuật. Qua thượng tuần tháng 3 năm 1966, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Lực lượng Đặc biệt lại cho Trung tá Nguyễn Hợp Đoàn, sau đó đi nhận chức phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh do Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận làm Tư lệnh. Hạ tuần tháng 10 cùng năm, ông được cử đi công cán tại Hồng Kông với nhiệm vụ đặc biệt trong thời gian 1 tuần lễ. Qua năm 1967, tiếp tục là phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1 do Đại tá Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh.

Đầu tháng 7 năm 1968, ông thuyên chuyển về Vùng 4 chiến thuật, được cử làm Tư lệnh Biệt khu chiến thuật 44 Đồng Tháp Mười, khu vực biên giới Việt-Miên (thành lập ngày 1-12-1967 gồm 4 tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc và An Giang). Trung tuần tháng 4 năm 1969, ông được đặc cách vinh thăng hàm Chuẩn tướng tại nhiệm.

Đầu tháng giêng năm 1970, nhận lệnh bàn giao Biệt khu 44 lại cho Đại tá Võ Hữu Hạnh, sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Đại tá Phan Đình Thứ (tự Lam Sơn) được cử làm phụ tá Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Thời điểm ông Tư lệnh Lực lượng đặc biệt, các sĩ quan trong Bộ tư lệnh gồm có:
– Phụ tá Tư lệnh: Đại tá Hồ Tiêu (khóa 2 Võ bị Huế)
– Tham mưu trưởng: Trung tá Đỗ Trọng Khôi (Võ bị Đà Lạt)

Tháng 8 năm 1970, nhận lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh lực lượng Đặc biệt lại cho Đai tá Hồ Tiêu. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh thay thế Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4. Giữa tháng 4 năm 1971, ông được đặc cách vinh thăng hàm Thiếu tướng tại nhiệm do Sư đoàn 1 đạt được chiến công trong chiến dịch Lam sơn 719. Thời điểm này, ông được cử làm Trưởng đoàn hướng dẫn phái đoàn gồm 25 quân nhân các cấp có chiến tích ở Hạ Lào đi thăm viếng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Trung tuần tháng 9 năm 1972, ông xin từ nhiệm để dưỡng bệnh sau khi bàn giao Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Điềm (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn). Qua đầu năm 1973, ông được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quang Trung thay thế Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng

Đầu tháng 11 năm 1974, được lệnh bàn giao Trung tâm Huấn luyện Quang Trung lại cho Thiếu tướng Trần Bá Di (nguyên Tư lệnh phó Quân đoàn IV). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2 thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Toàn trở về Trung ương giữ chức Chỉ huy trưởng Thiết giáp.
Chiến dịch Tây Nguyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã làm suy sụp tinh thần và đánh tan gần như hoàn toàn lực lượng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Cao nguyên Trung phần. Ngày 16 tháng 3, theo chỉ thị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc họp khẩn cấp ngày 14 tháng 3 (gồm Tổng thống, Tổng tham mưu trưởng và các tướng Tư lệnh 4 Quân đoàn và Quân khu) tại Thị xã Cam Ranh. Ông chỉ huy cuộc triệt thoái toàn bộ Quân đoàn II và Quân khu 2 về Tuy Hòa để tái phối trí (Bộ tư lệnh Quân đoàn đặt ở Nha Trang). Cuộc triệt thoái này đã thất bại và làm rối loạn và thiệt hại lớn cho Quân đoàn II và Quân khu 2. Sau đó ông bị triệu tập về Sài Gòn nhưng vì lâm bệnh nên không thể trình diện Tổng thống Thiệu được. Đầu tháng 4, ông phải vào điều trị tại Tổng y viện Cộng hòa.

Đến sáng ngày 29 tháng 4 tại tư dinh số 19 đường Gia Long, Sài Gòn. Sau khi nhờ Đại úy Đỗ Đức Sáng (sĩ quan tùy viên) đưa phu nhân và các con ông lên phi trường Tân Sơn Nhứt để di tản ra ngoại quốc, ông đã tự sát bằng một liều Choloroquine cực mạnh. Trung úy Mạnh (sĩ quan an ninh) biết được sự việc liền báo ngay cho phu nhân chưa kịp lên đường, quay trở lại đưa ông vào bệnh viện Grall cấp cứu nhưng vô vọng vì đã uống quá nhiều thuốc. Ông bị hôn mê đến 11 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, tỉnh lại thều thào hỏi phu nhân về hiện tình chiến cuộc ra sao. Sau khi được biết Tổng thống Dương Văn Minh đã ra lệnh cho toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông súng đầu hàng và quân giải phóng đã vào tới Sài Gòn. Nghe xong, ông từ trần, hưởng dương 47 tuổi.
TRAN VAN HAI
Trần Văn Hai (1925-1975), nguyên là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia Việt Nam. Trong suốt thời gian tại ngũ, ông đã phục vụ nhiều lĩnh vực như: Tỉnh trưởng, Chỉ huy trưởng Binh chủng, đứng đầu ngành Cảnh sát Quốc gia và Tư lệnh Sư đoàn bộ binh. Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tuẫn tiết trong sự kiện 30 tháng 4, 1975.
Ông sinh vào tháng Giêng năm 1925 tại Gò Công. Tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp tại Mỹ Tho với văn bằng Tú tài 1. Sau đó, ông được tuyển dụng làm Công chức cho Chính quyền Bảo hộ tại Mỹ Tho.

Năm 1952: Thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 45/102.692. Theo học khoá 7 Ngô Quyền tại Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (khai giảng: 1/5/1952, mãn khoá: 25/2/1953), tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được điều đi phục vụ Tiểu đoàn 4 Việt Nam do Thiếu tá Đặng Văn Sơn làm Tiểu đoàn trưởng

(Tiểu đoàn 4 Việt Nam thành lập ngày 15/10/1952 tại Hưng Yên do Đại úy Trần Văn Cường làm Tiểu đoàn trưởng đầu tiên).

Năm 1954: Sau hiệp định Genėve, ông được thăng cấp Trung úy phục vụ tại Phòng 2 thuộc Đệ tứ Quân khu Cao nguyên do Đại úy Đặng Hữu Hồng làm trưởng phòng.
Năm 1955: Khi nền Đệ nhất Cộng hoà ra đời, ông được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 262 đóng tại Ninh Hoà, Khánh Hoà. Cuối năm này được thăng cấp Đại úy giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 81 Địa phương đồn trú tại Phan Thiết.

Năm 1961: Đầu tháng 8, ông là một trong những người thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ do Thiếu tá Vĩnh Biểu làm Chỉ huy trưởng đầu tiên.

Năm 1962: Ông nhận chức Trưởng khoa Hành quân kiêm Huấn luyện viên lớp “Biệt động Rừng núi sình lầy”. Qua đầu năm 1963, ông được lên chức Trưởng khối Huấn luyện Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Tháng 8 cùng năm, ông được lên cấp Thiếu tá.

Năm 1965: Ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên thay thế Trung tá Phạm Anh. Ngày 1/11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá nhiệm chức.

Qua cuối năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá nhiệm chức.

Năm 1968: Hạ tuần tháng 3, ông được lệnh bàn giao chức Tỉnh trưởng Tỉnh Phú Yên lại cho Trung tá Nguyễn Văn Bá.

Qua đầu tháng 4, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy biệt động quân Trung ương. Đầu tháng 6, ông bàn giao Bộ chỉ huy Biệt động quân lại cho Trung tá Trần Công Liễu.

Ngay sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia thay thế Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan được đề cử giữ chức vụ Thanh tra Bộ Quốc phòng.

Tháng 7 năm 1970, ông được vinh thăng Chuẩn tướng nhiệm chức, sau đó bàn giao chức Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia lại cho Thiếu tướng Trần Thanh Phong, để đi nhận chức Tư lệnh Biệt khu 44 (gồm 4 tỉnh: Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc và An Giang).

Năm 1972: Đầu năm, ông được cử làm Tư lệnh phó Quân đoàn II đặc trách Biên phòng. Tháng 7 cùng năm ông được chuyển đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn kiêm Chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ thay thế Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh được thuyên chuyển làm Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Đồng Đế.

Năm 1974: Cuối tháng 10, ông được lệnh bàn giao Quân trường Lam Sơn & Huấn khu Dục Mỹ lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Toán. Đầu tháng 11, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam lên làm Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4.
rước sự kiện 30 tháng 4, 1975 khoảng hơn một tuần, đích thân Tổng thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn tướng Hai di tản nhưng ông từ chối.[1] Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi cho binh sĩ rời quân ngũ theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh, nửa đêm về sáng ngày 1/5/1975 ông đã dùng thuốc Optalidon (uống nguyên ống 20 viên) tự vẫn trong phòng làm việc tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Thi thể ông được Thân mẫu và bào đệ đem về mai táng tại Nghĩa trang Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn ngày 2/5/1975.

Tướng Trần Văn Hai được đánh giá là một tướng thanh liêm, chăm lo tốt đời sống binh sĩ thuộc quyền.[1]

Advertisements